Phóng viên (PV): Hiện nay, lượng chất độc tồn lưu sau chiến tranh vẫn nằm rải rác ở nhiều vùng đất của Tổ quốc. Để trả lại sự sống cho những “miền đất chết”, người lính hóa học vẫn âm thầm tiếp xúc, khắc phục xử lý sự độc hại, nguy hiểm của chất độc. Đề nghị đồng chí cho biết những khó khăn, thử thách mà các chiến sĩ hóa học phải đối mặt?

Thiếu tướng Phạm Đức Thọ: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã kết thúc 42 năm nay, nhưng hậu quả mà nó để lại thật khủng khiếp. Từ năm 1961 đến 1971, quân đội Mỹ triển khai chiến dịch có mật danh Ranch Hand, dùng hóa chất khai quang triệt phá những khu rừng rậm nhằm triệt hạ lớp ngụy trang tự nhiên của Quân Giải phóng. Hơn 74 triệu lít chất độc diệt cây đã được rải xuống miền Nam Việt Nam, trong đó chất độc da cam là khoảng 45 triệu lít, và có chứa khoảng 366kg dioxin. Chất độc da cam/dioxin gây ra hậu quả khủng khiếp mà nhiều người dân Việt Nam đã phải gánh chịu, hiện chất độc này đã ảnh hướng đến thế hệ thứ 3 của những người bị nhiễm. Ngoài ra, quân đội Mỹ còn sử dụng khoảng 9.000 tấn chất độc CS trên chiến trường miền Nam bằng các phương tiện phun rải và trong các loại đạn pháo, cối có chứa chất độc CS. Hiện nay vẫn còn nằm rải rác trên các khu vực là chiến trường hoặc các kho tàng của Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa trước đây. Sẽ còn phải mất nhiều năm nữa mới có thể xử lý hết số đất bị nhiễm dioxin cũng như các loại đạn dược chứa chất độc CS. 

leftcenterrightdel
Thiếu tướng Phạm Đức Thọ. Ảnh: Liên Việt 

Từ nhiều năm nay, Bộ đội Hóa học đã vượt qua muôn vàn khó khăn, nguy hiểm để có mặt ở các vùng đất nhiễm chất độc da cam/dioxin và những khu vực có bom đạn chứa chất độc CS còn sót lại để thực hiện việc xử lý loại hóa chất chết người này. 

Việc xử lý các loại chất độc này đòi hỏi một lượng kinh phí lớn và kỹ thuật rất phức tạp. Thường làm việc trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, trên địa bàn miền Trung, miền Nam, trong bộ khí tài phòng hóa ở nhiệt độ cao.

Đối với xử lý đất nhiễm chất độc da cam/dioxin, do quân đội Mỹ phun rải tồn tại rất lâu trong môi trường đất và cho đến nay, ảnh hưởng của chất da cam/dioxin ở những điểm tồn trữ vẫn rất nặng nề. Bộ đội Hóa học phải xử lý với khối lượng đất nhiễm lớn. Công việc này đòi hỏi bộ đội phải có sức khỏe tốt mới thực hiện được nhiệm vụ trong khí tài với thời gian dài, phải có bản lĩnh cùng nghiệp vụ vững vàng và phải được trang bị tốt, nếu không sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe sau này. Mặc dù nguy hiểm, kinh phí bảo đảm còn hạn chế, nhưng vượt lên tất cả là lòng nhiệt tình, ý thức trách nhiệm, sự chấp nhận hy sinh để đổi lấy bình yên cho Tổ quốc, hạnh phúc cho người dân, đó cũng là vinh dự và trách nhiệm của Bộ đội Hóa học. 

Đối với xử lý chất độc CS, ngoài việc xử lý các thùng chứa chất độc CS, các chiến sĩ còn phải xử lý loại chất độc này chứa trong các loại đạn pháo, cối còn sót lại trong chiến tranh. Bộ đội Hóa học vẫn kiên trì, cần mẫn, chuẩn xác từng động tác để tách được chất độc CS ra khỏi thân quả đạn mang đi xử lý. Việc này tiềm ẩn nhiều rủi ro bởi đạn có thể phát nổ bất cứ lúc nào.

PV: Thưa đồng chí, những người lính hóa học được bảo vệ như thế nào khi hoạt động trong những môi trường như vậy? 

Thiếu tướng Phạm Đức Thọ: Việc bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người lính hóa học là vô cùng cần thiết. Để làm được việc này trước hết chúng tôi coi trọng việc giáo dục ý thức sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Chúng tôi xây dựng quy trình công nghệ xử lý phù hợp kết hợp với công tác giáo dục chính trị tư tưởng và công tác bảo hộ, quy tắc an toàn, đề phòng tốt. Đến nay đã trở thành nhận thức thường xuyên và ý thức sẵn sàng nhận nhiệm vụ của mọi cán bộ, chiến sĩ.

Việc nghiên cứu, xây dựng quy trình thực hiện xử lý chất độc hóa học rất quan trọng. Hiện nay, binh chủng thực hiện quy trình xử lý chất độc theo các bước cơ bản. Thứ nhất, tiến hành điều tra, đánh giá xác định loại chất độc, mức độ ô nhiễm, phạm vi ô nhiễm và khả năng ảnh hưởng. Thứ hai, tiến hành khoanh vùng, cô lập chất độc để hạn chế đến mức tối đa ảnh hưởng đến con người và môi trường. Cuối cùng là sử dụng các hóa chất, trang thiết bị chuyên dùng, các quy trình công nghệ xử lý đã được nghiên cứu để tiến hành xử lý triệt để. Trong quá trình thực hiện, người lính hóa học được trang bị các khí tài phòng da, phòng hô hấp và các loại khí tài chuyên dụng đã được mua sắm, trang bị hoặc đã được binh chủng nghiên cứu, cải tiến để hạn chế đến mức thấp nhất khả năng tiếp xúc với chất độc, qua đó tạo niềm tin cho lực lượng trực tiếp tham gia xử lý chất độc hóa học. Bên cạnh trang bị về mặt kỹ thuật, chúng tôi luôn quan tâm huấn luyện, đào tạo những con người có trình độ nghiệp vụ, có ý thức kỷ luật cao để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ xử lý chất độc.

Trên thực tế, cho đến nay, nhờ chấp hành nghiêm quy trình công nghệ xử lý, chúng tôi chưa phát hiện trường hợp nào bị phơi nhiễm chất độc.

PV: Thưa đồng chí, hiện nay trên lãnh thổ nước ta còn khoảng bao nhiêu diện tích nhiễm các loại chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh? Binh chủng Hóa học đã có những sáng kiến, giải pháp gì để xử lý triệt để tác hại của chất độc? 

Thiếu tướng Phạm Đức Thọ: Việc khẳng định còn bao nhiêu diện tích trên đất nước ta bị ô nhiễm chất độc hóa học là một câu hỏi lớn cần rất nhiều thời gian, công sức và kinh phí để trả lời. Trong báo cáo tổng thể tình hình ô nhiễm chất độc da cam/dioxin của Văn phòng Ban chỉ đạo 33/Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2013, từ năm 1961 đến 1971, quân đội Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh hóa học với 3 giai đoạn (thí điểm, mở rộng và thu hồi) với diện tích bị phun rải chất độc hóa học vào khoảng hơn 2,5 triệu ha, chiếm khoảng hơn 15% diện tích toàn miền Nam Việt Nam. Bên cạnh dioxin, quân đội Mỹ còn sử dụng khoảng hơn 9.000 tấn chất độc CS và ngoài ra còn có các loại chất độc khác. 

Hiện nay, những điểm ô nhiễm nặng nhất về chất độc da cam/dioxin chủ yếu tập trung vào 3 sân bay: Đà Nẵng, Phù Cát và Biên Hòa với tổng thể tích ô nhiễm khoảng gần 700 nghìn m3 đất và trầm tích bị ô nhiễm. Chất độc CS vẫn còn tồn tại và nằm rải rác từ đồng bằng đến miền núi trên địa bàn từ Quân khu 4 đến Quân khu 9 với khối lượng chưa thể thống kê hết. 

Từ năm 1996 đến nay, Binh chủng Hóa học đã đề xuất nhiều đề tài, dự án và các giải pháp để thực hiện việc xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh. Cụ thể, binh chủng đã trực tiếp và tham gia thực hiện tổng cộng 19 dự án, nhiệm vụ, 3 đề tài nghiên cứu cấp Bộ Quốc phòng và cấp Nhà nước liên quan đến công tác xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh. Ngoài ra là các nhiệm vụ phối hợp với các cơ quan trong và ngoài quân đội để thực hiện các nhiệm vụ điều tra, đánh giá mức độ ô nhiễm cũng như các giải pháp chống lan tỏa ô nhiễm ra môi trường xung quanh. 

Kết quả đã tiến hành thu gom, chôn lấp, cô lập được hơn 160.000m3 đất nhiễm chất độc hóa học da cam/dioxin tại Sân bay Biên Hòa. Binh chủng đã phối hợp với Bộ CHQS của 34 tỉnh, thành phố thuộc các Quân khu 4,5, 7, 9 tiến hành điều tra tại 293 huyện, thị xã, đã phát hiện, thu gom và xử lý gần 500 tấn chất độc và đạn được chứa chất độc CS, 15 tấn hóa chất độc các loại. Với những kết quả đã thực hiện trên, binh chủng đã góp phần làm trong sạch môi trường, ổn định đời sống và phát triển kinh tế-xã hội cho nhân dân trên địa bàn các khu vực bị ô nhiễm.

Ngoài việc xử lý chất độc tồn lưu sau chiến tranh, Binh chủng Hóa học còn xử lý ô nhiễm môi trường do cháy nổ, thuốc bảo vệ thực vật tồn dư, quá hạn sử dụng, xử lý nguồn nước, khí thải, rác thải… và thực hiện nhiệm vụ quan trắc, cảnh báo môi trường.

PV: Thưa đồng chí, được biết hiện nay, Binh chủng Hóa học đã thành lập và ra mắt 3 trung tâm ứng cứu sự cố hóa chất độc, phóng xạ, hạt nhân ở 3 miền Bắc, Trung, Nam, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, sẵn sàng ứng cứu, phản ứng nhanh với các sự cố môi trường. Các trung tâm này đã hoạt động như thế nào trong thời gian qua?

Thiếu tướng Phạm Đức Thọ: Các trung tâm này được thành lập theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đặt dưới sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Bộ tư lệnh Hóa học. Các trung tâm được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại, có chức năng, nhiệm vụ thực hiện các biện pháp ứng phó sự cố hóa chất độc, phóng xạ, hạt nhân; là lực lượng chuyên trách làm nòng cốt về kỹ thuật, phối hợp với các lực lượng có liên quan thực hiện nhiệm vụ ứng cứu khẩn cấp sự cố hóa chất độc, phóng xạ, hạt nhân theo kế hoạch ứng cứu của quốc gia. Đảng ủy Binh chủng coi đây là nhiệm vụ chiến đấu thời bình của Bộ đội Hóa học và đã lãnh đạo, chỉ đạo 3 trung tâm tăng cường phối hợp với các địa phương, đơn vị liên quan, lập các phương án; chuẩn bị lực lượng, phương tiện sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ ứng cứu các tình huống khẩn cấp về sự cố hóa chất độc, phóng xạ, thực hiện tìm kiếm, cứu nạn và bảo vệ môi trường. 

Từ khi đi vào hoạt động, các trung tâm đã tham gia xỷ lý các sự cố, thảm họa môi trường, thể hiện rõ vai trò là lực lượng nòng cốt sử dụng khí tài, trang bị đặc chủng để thu gom làm giảm tác hại của hóa chất độc ra môi trường và hướng dẫn quân và dân trên địa bàn cùng tham gia khắc phục.

PV: Bộ đội Hóa học có vai trò vô cùng quan trọng, làm nòng cốt tham gia xử lý sự cố, thảm họa về môi trường. Binh chủng đã có những chiến lược, giải pháp gì về phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới? 

Thiếu tướng Phạm Đức Thọ: Đảng bộ Binh chủng Hóa học đã xác định đây là một khâu đột phá và đề ra nhiệm vụ, chỉ tiêu cụ thể, tích cực, chủ động đề xuất các cơ chế, chính sách thu hút và giữ cán bộ chất lượng cao; khuyến khích đào tạo sau đại học, nhất là tiến sĩ. Binh chủng đã chủ động phối hợp với các cơ sở đào tạo xây dựng nguồn nhân lực để thống nhất hướng đào tạo sao cho đáp ứng yêu cầu của ngành phòng hóa. Binh chủng cũng tranh thủ các cơ sở đào tạo chuyên ngành hóa học ngoài quân đội để gửi cán bộ đi đào tạo. Đặc biệt, binh chủng đang chủ động tìm nguồn đào tạo ngoài nước để đội ngũ cán bộ được tiếp cận với khoa học, công nghệ tiên tiến, nhưng phù hợp với Việt Nam. 

Binh chủng đã chỉ đạo Trường Sĩ quan Phòng hóa phải tiến hành rà soát lại toàn bộ chương trình để thống nhất những trọng tâm, trọng điểm, cắt bớt những cái rườm rà, đào tạo của nhà trường phải gắn chặt với thực tiễn. Như thời gian vừa qua, nhiều sự cố có liên quan đến yếu tố phóng xạ, chất độc hóa học, ô nhiễm môi trường, xử lý chất độc tồn lưu sau chiến tranh đều cần sự có mặt của Bộ đội Hóa học...

Hợp tác quốc tế là giải pháp quan trọng trong xây dựng nguồn nhân lực phòng hóa chất lượng cao của Bộ đội Hóa học. Trên cơ sở các quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng, trong xu hướng mở rộng hội nhập quốc tế, trong đó có các hoạt động đối ngoại quốc phòng, binh chủng tranh thủ thời cơ, chủ động và tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các điều ước quốc tế về phòng chống vũ khí hủy diệt lớn mà Việt Nam đã tham gia; phối hợp, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Công ước cấm vũ khí hoá học (OPCW), Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), các đối tác thực hiện các dự án xử lý chất độc tồn lưu sau chiến tranh, chuyển giao công nghệ sản xuất, phát triển trang bị phòng hóa...) để bồi dưỡng nguồn nhân lực phòng hóa. Cùng với đó, binh chủng tích cực tham mưu với trên đẩy mạnh hợp tác với các cơ sở đào tạo đại học, sau đại học ở những nước có kỹ thuật phòng chống vũ khí hóa học, sinh học, phóng xạ, hạt nhân tiên tiến để đào tạo nguồn nhân lực phòng hóa chất lượng cao.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!

VĂN TUẤN - LIÊN VIỆT