Những người đồng cảnh ngộ

Vô tình biết được chuyện tình của anh chị, tôi mạnh dạn tìm đến anh Lê Văn Dảo (sinh năm 1963), hiện là Đại tá, cán bộ Phòng Chế độ Chính sách, Bảo hiểm Xã hội Bộ Quốc phòng, để được nghe anh kể về mối tình đặc biệt của mình.

Vợ chồng anh Dảo-chị Luyến đều là con độc nhất của hai liệt sĩ. Ông thân sinh ra anh Dảo tên là Lê Văn Bảo, công tác tại Đoàn 559. Năm 1966, ông hy sinh tại Nghĩa Đàn, Nghệ An, trong quá trình tham gia chiến đấu. Năm 1967, ông Nguyễn Văn Chương, bố chị Luyến, cùng một đơn vị với ông Bảo, hy sinh trong lúc đang làm nhiệm vụ tại Đường 9-Nam Lào. Lúc mất bố, cả anh và chị mới tròn 3 tuổi.

Nhà anh Dảo, chị Luyến ở hai thôn sát nhau. Anh ở thôn Tiền Vỹ, chị ở thôn An Liệt, xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Hai người lại học cùng một lớp cả cấp 1 và cấp 2. Lên đến cấp 3, toàn huyện chỉ có một trường là cấp 3 Thanh Hà. Trường lại có chính sách xếp tất cả con liệt sĩ, con những người có công với đất nước trong toàn huyện vào học chung một lớp. Vậy là anh Dảo, chị Luyến lại chung lớp. “Thời đi học, dù học chung nhau tới 12 năm nhưng chúng tôi vẫn rất vô tư, chưa biết gì đến tình yêu đôi lứa. Mãi về sau, khi tốt nghiệp cấp 3, mới nảy sinh tình cảm! Tiếc là lúc đó mình chưa dám tỏ lòng!”-anh Dảo hồi tưởng.

Anh chị bắt đầu có cảm tình với nhau qua những lời tâm sự về gia đình neo đơn chỉ một mẹ già, về cuộc sống tương lai, về bao điều cần lo toan khi hai người đều đã trưởng thành. Năm 1982, dù là con độc nhất của gia đình liệt sĩ nhưng anh vẫn quyết định nhập ngũ và theo học Trường Sĩ quan Không quân. Còn chị Luyến được cử đi Liên Xô (trước đây) dưới diện lao động chính sách.

leftcenterrightdel
 Ảnh chụp kỷ niệm 30 năm ngày cưới của anh Lê Văn Dảo và chị Nguyễn Thị Luyến. Ảnh do nhân vật cung cấp

Xa cách cả về không gian lẫn thời gian, những tưởng người ta sẽ xa nhau nhưng với anh Dảo, chị Luyến thì ngược lại. Một người đi học xa nhà, cả ngày ở ngoài thao trường mồ hôi ướt đẫm. Một người xa quê hương, mưu sinh nơi đất khách quê người. Hai người đều chất chứa trong mình những nỗi niềm về sự cô đơn, thiếu thốn tình cảm. Từ đó, họ hiểu nhau hơn, sẻ chia với nhau bao vất vả, nhọc nhằn qua những lá thư “xuyên biên giới”. “Hồi đó, trung bình cứ một tháng rưỡi là mình được nhận thư một lần. Rồi ai có tiền dành dụm được thì lại mua sẵn tấm tem thư bỏ vào phong bì cho người kia rồi gửi đi để san sẻ với nhau!”-anh Dảo cười, đôi mắt nheo nheo chất chứa bao kỷ niệm. Anh còn kể thêm, trong những ngày chị xa quê hương, lần nào về phép thăm nhà anh cũng ghé qua thăm mẹ chị, biếu bà gói quà, hộp bánh, chăm sóc nhà cửa và ngồi lại tâm sự để bà vơi đi nỗi nhớ con.

Bốn năm đằng đẵng trôi đi, năm 1986, chị Luyến trở về nước, tình cảm bao năm đong đầy qua những lá thư nay “đơm hoa kết trái” thành một lễ thành hôn. Năm 1987, anh chị chính thức về chung một nhà. Thế nhưng, những khó khăn, trắc trở của cuộc sống chưa dừng lại sau bao sự xa cách. Cưới vợ mới được 15 ngày, anh Dảo vừa về đơn vị tại Sân bay Kiến An, Hải Phòng để thăm hỏi mọi người thì nhận được lệnh chuyển công tác vào Sân bay Phù Cát (tỉnh Bình Định). Không kịp chào từ biệt vợ và gia đình, anh lên xe đi nhận nhiệm vụ. “Tôi vẫn nhớ mãi, cưới vợ là vào tháng 2-1987 thì 15 ngày sau, phép còn chưa nghỉ hết đã đi công tác xa 5 năm. Hồi ấy đâu có điện thoại, một tháng rưỡi sau khi tôi đi, vợ tôi mới nhận được thư chào tạm biệt của chồng!”-anh Dảo trầm ngâm.

Trong 5 năm anh Dảo công tác xa nhà, chị Luyến lặng lẽ một mình chăm sóc người con đầu lòng, quán xuyến chuyện gia đình, chờ từng ngày phép mỗi năm để chồng về thăm. Năm 1992, anh Dảo đi học tại Học viện Kỹ thuật Quân sự để nâng cao chuyên ngành và được phân công công tác tại Hà Nội. Ngày mới chuyển lên Thủ đô, vợ chồng anh thuê một căn nhà nhỏ tại khu Nghĩa Đô. Mỗi ngày anh Dảo đi về hơn 20 cây số. Chị mở một tiệm may nhỏ tại nhà. Ngoài giờ đi làm, anh Dảo lại tranh thủ đi giao hàng thay vợ. Về sau, chị đi làm tại một xí nghiệp may nhưng vì sức khỏe yếu, anh lại hay công tác xa nên không thể duy trì được công việc. Chị Luyến đành nghỉ việc ở nhà và xoay sang mở một tiệm tạp hóa nhỏ để tiện lo việc gia đình. Anh chị cứ thế động viên nhau, cố gắng thức khuya dậy sớm để mong sao có thể lo được cho hai con ăn học đàng hoàng.

“Cuộc sống hồi ấy vất vả, chật vật lắm, nhưng vợ chồng tôi vẫn phải vì nhau, vì con mà cố gắng. Cả hai cùng mất cha từ nhỏ, hoàn cảnh gia đình đúng là khó khăn hơn những người bình thường nhưng chưa bao giờ chúng tôi vin vào đó mà chùn bước. Người ta làm được thì mình cũng phải làm được, vợ chồng tôi luôn đồng lòng như thế!”-anh Dảo tâm sự.

Tình thương đến từ sự đồng cảm

Anh Dảo luôn tâm niệm rằng, chính cái duyên, cái phận đã đưa anh chị đến với nhau. Từ một vùng quê, từ một hoàn cảnh chung, từ sự đồng cảm của hai đứa trẻ thiếu thốn tình cảm người cha đã gắn kết anh chị lại với nhau. Sự thấu hiểu trong cảm xúc đã tạo nên những tình thương, tình yêu rất đỗi giản dị. “Đôi khi ngồi nghĩ lại, tôi cũng phải cảm ơn chuyện xếp con em của các gia đình chính sách vào học chung một lớp của huyện. Bởi chúng tôi đều có hoàn cảnh giống nhau, tạo nên rất nhiều sự cảm thông. Cho đến nay, 60 người lớp tôi vẫn họp mặt thường xuyên và rất thân nhau!”-nụ cười tự hào làm gương mặt anh Dảo như rạng rỡ hơn.

Vì hoàn cảnh vợ chồng đều là con một của hai gia đình nên anh Dảo luôn cố gắng hoàn thành trách nhiệm của người con trai cả ở hai nhà nội, ngoại. Việc gì anh cũng sẵn sàng gánh vác, lo toan để hai người mẹ yên tâm vui sống tuổi già. “Tôi và vợ đồng cảm với nhau rất nhiều nên luôn nhận được sự động viên an ủi từ nhau trong những lúc khó khăn. Mọi việc lớn nhỏ trong gia đình chúng tôi đều cùng bàn bạc và cùng thực hiện!”-anh Dảo nói.

Sự thấu hiểu không chỉ tạo nên một gia đình đầm ấm mà còn tạo nên hai người “bạn đời” thực sự. Anh Dảo, chị Luyến luôn có thể sẻ chia và cùng nhau vượt bao khó khăn. Năm 2017 là dịp kỷ niệm tròn 30 năm ngày cưới của anh chị. Kết quả của tình yêu bền vững ấy là một người con gái, một con trai của anh chị đều đã trưởng thành. Ngày hai con lập gia đình, anh Dảo đều kể cho chúng nghe về mối tình của xa cách, của khó khăn ngày ấy và cả những nỗ lực vượt lên trên hoàn cảnh. Anh luôn mong qua câu chuyện cuộc đời bố mẹ, các con có thể lấy đó làm trải nghiệm cho chính mình và luôn hiểu rằng: Sự cảm thông trong cuộc sống có thể làm nên rất nhiều điều kỳ diệu… Đặc biệt, với người con trai, anh Dảo luôn cố gắng bảo ban và nhắc nhở để cháu có thể hiểu và cùng bố gánh vác trách nhiệm lớn lao khi làm chủ gia đình.

Thi thoảng vào dịp kỷ niệm ngày cưới, anh Dảo, chị Luyến vẫn cùng nhau mở lại những bức thư của 4 năm xa cách. Những khó khăn, vất vả hay buồn tủi ngày ấy đã qua, giờ chỉ còn lại những yêu thương. “Giờ ngẫm lại, tôi thấy trong những hoàn cảnh khó khăn, chỉ cần chúng ta luôn lạc quan và tiến về phía trước thì những yêu thương và hạnh phúc sẽ luôn tìm đến, như câu chuyện của chính tôi…”-anh Dảo chiêm nghiệm.

TỐNG HOÀNG HÀ MY