Hai người quen nhau sau khi người lính tên lửa Lê Duy Túy vừa học ở Liên Xô về, nhận nhiệm vụ ở Tiểu đoàn 94, đóng tại Ngô Khê, Bình Lục, Hà Nam năm 1967. Còn cô gái Đào Thị Lành nhà ở ngay gần đó, vẫn thường xuyên cùng lực lượng dân quân địa phương vào giúp các anh bộ đội ngụy trang trận địa, đắp ụ tên lửa. Mến cái nết, cái người của cô gái vùng chiêm trũng có dáng người thanh thoát, làn da trắng, khuôn mặt đôn hậu, mỗi lần vào nhà xin nước uống hay cây tre, cây chuối về đơn vị, chàng trai lại kiếm cớ hỏi han, chuyện trò bâng quơ và trao cho cô cái nhìn tình tứ.

Tình trong như đã nhưng chưa kịp nói với nhau một lời yêu thương. Cuối năm 1967, Lê Duy Túy cùng đơn vị hành quân vào chiến trường Khu IV và Đào Thị Lành cũng được đi học lớp trung cấp Kinh tế thương nghiệp ở Quỳnh Côi, Thái Bình. Mối quan hệ giữa hai người vẫn được duy trì bằng những cánh thư. Tuy xa cách, lửa tình yêu ngày càng một nồng đượm, sưởi ấm tâm hồn hai người. Tấm ảnh anh kịp chụp chung với đại gia đình chị, anh luôn mang theo bên mình đã trở thành kỷ vật xoa dịu nhớ thương.

leftcenterrightdel
Ông Lê Duy Túy (người đứng sau) chụp cùng gia đình cô Đào Thị Lành khi đơn vị đóng quân ở Hà Nam.

Sau ba năm học, đến kỳ thực tập, Đào Thị Lành đã về thăm gia đình người lính tên lửa một thời xa mặt chẳng thể cách lòng. Đặt chân vào nếp nhà nhỏ nằm ở thôn Thanh Am, xã Thượng Thanh (Gia Lâm, Hà Nội), gặp mẹ anh, một cụ già thật phúc hậu, trái tim cô gái như mách bảo, chính nơi này sẽ là nơi cô gửi gắm cuộc đời mình.

Năm 1970, tốt nghiệp trường trung cấp, Lành được phân công về làm việc tại ngành Thương nghiệp tỉnh Tuyên Quang. Đơn vị của anh Túy cũng chuyển về phố Giỏ, Bắc Giang. Tháng 10-1972, một đám cưới thời chiến đơn giản nhưng ấm áp được cử hành ngay tại hội trường của Công ty Thực phẩm Tuyên Quang. Cô dâu Đào Thị Lành mặc áo phin trắng, quần xa-tanh đen, còn chàng trắc thủ tên lửa thì vuốt phẳng bộ quân phục thời chiến diện vào, lại còn lên hát ca khúc “Chiếc gậy Trường Sơn”, làm cả hôn trường náo nức. Gần nhau chưa đầy ba hôm, chị ở lại Tuyên Quang, anh trở về trận địa của Tiểu đoàn 94 đứng chân tận Bắc Giang.

Ngày 17-12-1972, nhận được điện của anh nói đơn vị nhận lệnh chuẩn bị Nam tiến, chị báo cáo cơ quan và được sắp xếp cho về gặp chồng. Đi từ chiều 18, đến nửa đêm chị mới tới nhà mẹ chồng ở Gia Lâm, Hà Nội. Vào đến nhà rồi, cái cảm giác về chiến tranh vẫn rợn ngợp khi nghe tiếng bom nổ kéo dài và những quầng lửa sáng rực thành phố.

Đã mấy ngày Mỹ đánh bom Hà Nội. Trong bom rơi, đạn lạc, chị tiếp tục lần tìm đến đơn vị anh lúc này đã cơ động về Từ Sơn, Bắc Ninh cùng các lực lượng khác bảo vệ Thủ đô. Các anh bộ đội tên lửa thấy cô Lành ngày nào xuất hiện, đều vui mừng khôn xiết. Đơn vị bố trí cho đôi vợ chồng trẻ ngủ ngay trên chiếc xe xích kéo bệ tên lửa. Được hai đêm, thấy ở đó không tiện lắm, hai người lại chuyển về ngủ tạm ở khu trạm xá của xã Tam Sơn gần trận địa tên lửa của tiểu đoàn.

Trạm xá thời chiến, những dãy nhà cấp 4 trống hoác. Dù vậy, những chiếc giường còn để lại vẫn có thể làm tổ ấm cho đôi vợ chồng anh lính tên lửa. Lê Duy Túy đem theo chiếu, chăn, màn và mỗi đêm, sau khi giao ban ở đơn vị xong lại được mọi người tạo điều kiện cho về trạm xá với vợ. Cũng may, trạm có một cái hầm vốn dành cho các sản phụ tránh bom. Dù đơn sơ nhưng vẫn còn an toàn nên cả hai đều cảm thấy tạm yên lòng.

Gần trạm xá có một căn hầm chữ A. Chị Lành ngày ngày ra xem bộ đội trực chiến. Chỉ vài hôm, chị đã phân biệt được tiếng còi báo động cấp 1,  cấp 2. Ngoài những tiếng bom nổ rền từ xa vọng lại, ngồi trong nhà mà chị có cảm giác như đưa võng. Cho đến đêm 28-12-1972…

Giao ban xong, Tiểu đội trưởng Lê Duy Túy chào anh em ở đơn vị, chuẩn bị về khu trạm xá với vợ. Về đến trạm xá, anh dặn vợ:

- Hôm nay tình hình căng đấy, mình không được ra hầm chữ A xem bộ đội bắn nữa đâu nhé.

Hai người chốt cửa, cùng xuống căn hầm trong nhà. Điện bị cắt, căn hầm tối om, cả hai đến với giấc ngủ chập chờn.

leftcenterrightdel
Vợ chồng người lính tên lửa hôm nay

Hơn 10 giờ đêm, chợt nghe tiếng báo động ngoài trận địa, tiếng bom rơi xé trời. Cả hai tỉnh dậy, tai ù đặc. Căn nhà cấp 4 đã bị bom phang bay cả mái, nhìn lên thấy cả một trời sao nhấp nháy. Tường nhà đổ nát. Kinh nghiệm những năm chiến đấu ở Khu IV mách bảo, địch sẽ trở lại đánh lần hai. Tiểu đội trưởng Lê Duy Túy nhặt được chiếc áo bộ đội cho vợ mặc tạm rồi dắt cô chạy về phía xóm Núi. Vừa bước chân ra, cả hai cùng sững người khi xung quanh chỉ còn là những hố bom như những chiếc ao. Trên miệng mỗi hố, chất lân tinh còn đang cháy sáng xanh, khói bụi mịt mù, khét lẹt. Cả hai cùng hiểu, mình vừa may mắn sống sót qua một trận bom rất khốc liệt.

Trời tối đen như mực. Anh Túy dắt vợ băng qua những tảng đất vừa bị bom B-52 cày xới. Tới nhà cô Thành, đoàn viên thanh niên của chi đoàn xóm Núi, anh ngập ngừng:

- Cô cho chị Lành mượn tạm cái quần dài nhé.

Chị Lành người to, cao, bận chiếc quần chỉ lưng lửng khiến cả ba cùng nhịn cười.

Quay lại trận địa, gặp đoàn của Tham mưu trưởng Lê Quang Thái, Lê Duy Túy chỉ kịp báo cáo khu trạm xá đã trở thành bãi bom, rồi nhanh chóng băng qua khu trung tuyến đến trận địa của Đại đội 2. Dân địa phương bị chết sau trận bom được đắp chiếu nằm la liệt bên lề đường. Căn hầm cửa đại đội cũng bị xới tung lên. Cả ba trắc thủ Phong, Kèo, Nhự đều bị bom bốc đi xa hàng chục mét… Còn cái hầm chữ A mọi hôm chị Lành vẫn ra xem bộ đội, lúc máy bay đến, nay bẹp rúm! Chính trị viên Tiểu đoàn 94 Nguyễn Minh Thắng và Tiểu đoàn phó Trần Văn Chiến trú trong đó đều hy sinh…

Kể đến đây, bà Đào Thị Lành dừng lại, nói như phân trần:

- Cháu bảo, ngày ấy mới cưới nhau, còn trẻ nên hay thẹn lắm. Bác trai điện lên nhưng có dám đi đâu. Sau các bác ở cơ quan giục quá, cô mới lấy hết quyết tâm xuôi Hà Nội. Các bác ấy nhiều người có chồng bộ đội đóng quân xa nên rất hiểu và thương bác. Rút kinh nghiệm một bác chồng đi B, một lần được tin đơn vị chồng hành quân qua Thái Nguyên, lên hơi chậm, vừa tới nơi, đơn vị đã hành quân đi rồi. Thế là vợ chồng không gặp nhau; vì vậy khi bác trai gửi điện lên là các bác ở cơ quan bố trí và giục bác phải đi ngay.

Rồi bà đưa tay quệt nước mắt:

- Mấy ngày về đơn vị của bác Túy, gặp anh em, thấy ai cũng thân thiện, tình cảm như người nhà. Nhất là chú Phong, chú Kèo. Các chú ấy là đồng hương của bác đấy, còn trẻ lắm, mới nhập ngũ năm 1971 mà. Từ hôm bác lên, lúc nào thư việc ở trận địa là lại vào chơi, nói chuyện; và bao giờ về, các chú ấy cũng đều chào bác bằng câu “chúc anh chị ngủ ngon”. Chú Kèo nghe nói đáng ra còn được nghỉ phép thêm gần một tuần nữa, nhưng về nhà sốt ruột vì thương anh em ở đơn vị phải lắp quả đạn to, nặng nên trả phép sớm để về làm cùng. Lúc lên, bà mẹ vốn là dân làng chài còn nướng cặp cá biển gửi cho đơn vị…

Thấy vợ rơm rớm, nghẹn ngào, ông Túy an ủi:

- Sống, chết cũng là cái số mình ạ. Bom, đạn tránh mình chứ mình đâu tránh được bom, đạn. Mình xem, bom đánh trúng khu trạm xá đêm tôi với mình đang ngủ, tất cả đều tan hoang, chỉ chừa mỗi tôi với mình ra.

Sau trận đánh B-52, tiểu đoàn được đi dự lớp chỉnh huấn ở Văn Giang, Hưng Yên. Ông bà lại được gặp nhau và bà mang bầu cậu con trai Lê Quang Tùng, sau cũng nhập ngũ và công tác tại Đại đội Công binh, Sư đoàn Phòng không Hà Nội rồi chuyển ngành. Ngày ấy, mọi người cứ ngỡ bà đã mang thai từ cái lần gặp chồng ở trạm xá trong những ngày đánh B-52 nên mỗi khi bế cháu cứ nựng đùa nó là “thằng B-52”.

Bài và ảnh: HỒNG LINH