Dũng sĩ diệt Mỹ

Đôi trai anh hùng, gái thuyền quyên này đều ở dưới chân núi Bồ Bồ, xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam). Cô du kích Lâm Thị Phượng lúc 16 tuổi đã là một cô gái xinh đẹp. Dáng cao, da trắng trẻo, tóc dài, được nhiều chàng để ý nhưng cô chỉ gật đầu với Nguyễn Đức Hiền và hứa hẹn sẽ chờ đợi anh về. Ông Hiền từ du kích thoát ly làm bộ đội chủ lực của huyện. Trong cuốn lịch sử của LLVT huyện Điện Bàn, cái tên Đại đội phó Đại đội 1 Nguyễn Đức Hiền được nhắc đến với những trận đánh tiêu biểu. Ông nhiều lần chạm trán với lính Mỹ. Trong trận đánh đồn Gò Đinh năm 1967, Đại đội 1 được giao nhiệm vụ tiêu diệt trung đội Mỹ chốt ở đây. Chiến sĩ mặc quần đùi, bôi nhọ nồi và lá rau lang kín người. Mũi một do ông Hiền làm mũi trưởng nhận diệt 4 lô cốt và 1 chòi canh. Khi ông chỉ huy anh em tiếp cận, tháo gỡ 10 lớp mìn và chuẩn bị áp sát mục tiêu thì một tình huống xảy ra lúc giữa khuya: Một toán lính Mỹ từ phía chợ lù lù vào cổng chính. Quá bất ngờ, Mũi trưởng Hiền chỉ kịp ngoắc chiến sĩ nằm sát xuống đất và bản thân ép vào chiếc thang gỗ. Toán lính Mỹ leo lên chiếc thang vào lô cốt mà không hề biết “Việt Cộng” ngay dưới chân. Đúng hiệu lệnh, đơn vị nổ súng diệt gọn đồn.

leftcenterrightdel
Ông Hiền xem vết thương trên bụng của vợ

Cuộc chạm trán với trung đoàn Mỹ ở các xã Gò Nổi tháng 10-1967 lại khác. Đại đội phó Nguyễn Đức Hiền được cấp trên giao nhiệm vụ chỉ huy đại đội phối hợp với du kích liên tục tổ chức trận địa, đánh phản công. Suốt 6 ngày đêm, ta và địch giằng co khiến chúng không vào làng được. Xế chiều, 3 tên lính Mỹ mặc áo mưa, ngó nghiêng vào trận địa của ta và xì xào với nhau: “No vi-xi” (không có “Việt Cộng”). Quân ta đang ở trong công sự phủ cỏ kiên trì chờ đợi, có một số chiến sĩ nghe thấy tiếng xì xào thì muốn nổ súng nhưng Đại đội phó Hiền cản lại. Đúng như ông nhận định, địch tưởng an toàn, kéo quân vào mỗi lúc mỗi đông. Đợi cho chúng đến thật gần, lúc này ông Hiền ra lệnh toàn đơn vị xông lên... Gần 100 tên lính Mỹ bị diệt, 1 máy bay trực thăng cứu viện bị bắn rơi. Đại đội 1 được tặng Huân chương Chiến công hạng Ba, riêng Đại đội phó Nguyễn Đức Hiền được tặng bằng khen và danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, sau đó được bổ nhiệm làm Đại đội trưởng. Cũng trong trận này, ông Hiền bị thương toác bả vai và vợ ông chính là người trực tiếp băng bó. Ra điều trị ở miền Bắc, đi học rồi tiếp tục vào chiến đấu ở Thành cổ Quảng Trị, giáp mặt với lính Mỹ nhiều phen nữa nhưng trong số gần 100 trận đánh ông Hiền tham gia suốt đời binh nghiệp, thì thời kỳ làm Đại đội phó Đại đội 1 là thời gian ông “sung” nhất. Ông được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân chính ở giai đoạn này.

Mang ruột ra tòa

Cưới nhau năm 1966 nhưng đánh giặc liên miên, ông Hiền và bà Phượng chẳng mấy khi được đoàn tụ. Bà Phượng lăn lộn khắp các xã từ vùng cát đến Gò Nổi. Chỉ học chắp vá, vậy mà nhờ kinh nghiệm, bà trở thành Đội trưởng Đội Phẫu, có mặt ở những trận đánh lớn để cấp cứu, điều trị cho thương binh, đặc biệt là trong Chiến dịch Xuân Mậu Thân ở Quảng Đà. Năm 1969, bà bị địch bắt và tra tấn dã man 3 tháng trong tù... Năm 1971, địch đánh hơi thấy vị trí đứng chân của Đội Phẫu ở xã Điện Hồng nên suốt 20 ngày đêm, chúng cho 40 xe bọc thép chà đi xát lại vùng này. Khi bị phát hiện, bà Phượng vọt ra khỏi miệng hầm và bị trúng ngay loạt đạn vào bụng. Chúng đưa bà lên trực thăng rồi chở ra điều trị ở Bệnh viện Duy Tân, Đà Nẵng.

leftcenterrightdel
Vợ chồng ông Hiền - bà Phượng năm 1973

7 lần bác sĩ phẫu thuật bụng là 7 lần bà lôi chỉ khâu cho ruột bục ra để chống đối. Đến lần thứ 8 thì bà không cho mổ nữa. Chúng tức tối giam bà vào nhà lao, sau đó đưa ra xử tại Tỉnh đường Hội An cùng các tù nhân khác. Trước tòa, bà Phượng một mực kêu oan, rằng bà tên là Nguyễn Thị Liên, thợ may, về thăm quê thì bị Mỹ bắn lủng ruột, mổ 7 lần không xong. Tại đây, bà giở áo lôi bộ ruột được bọc trong bao ni lông ra cho các quan tòa xem. Tất cả ồ lên sửng sốt, sau đó tha ngay. Bà trở về trong vòng tay đồng đội sau một năm đấu trí với kẻ thù. Suốt 3 tháng điều trị vết thương, bà tiếp tục chịu đau đớn với bó ruột hở của mình. Đến Hà Nội khi Mỹ ném bom B-52 suốt 12 ngày đêm, bà ôm vết thương đi các nhà máy, công trường để tố cáo tội ác của Mỹ-ngụy. Có lần phái đoàn phụ nữ của Nhật khâm phục nghị lực của bà đã phỏng vấn và phát qua Đài Tiếng nói Việt Nam. Ở quê, cha bà bí mật mở radio nghe tên mới biết con mình còn sống và dỡ bỏ bàn thờ đã lập lâu nay.

Bà Phượng cười khi nhớ lại những ngày khốc liệt: “Người ta hay nói bóng gió “ruột để ngoài da”, đến lượt tôi đúng nghĩa đen luôn. Đi đâu cũng ôm nó đi theo, giặt giũ hằng ngày như áo quần. Ai thấy cũng khiếp. May mà không nhiễm trùng”. Sau đó, bà được đưa sang Trung Quốc mổ nối ruột. Vết sẹo trên bụng bà dài thêm vài tấc nữa nhưng đó cũng là cú đóng cuối cùng.

Chuyện vợ chồng của ông bà cũng ly kỳ không kém bất cứ thiên tình sử nào. Đợt ra Hà Nội đến thăm nhà người chú, thấy tấm ảnh chồng tặng gia đình chú treo trên tường, bà mừng khôn xiết khi mà 4 năm rồi không hề biết tin tức của nhau. Bà gặp Ban Thống nhất Trung ương để chuyển thư vào chiến trường Quảng Trị. Mấy tháng sau, ông Hiền nhận được thư nên xin ra Bắc gặp vợ. Thời điểm này bà lại đang ở Trung Quốc, nhận thư ông gửi, bà liền rút ngắn thời gian an dưỡng, tức tốc về Việt Nam. Cô con gái Nguyễn Thị Như Lệ sinh năm 1974 chính là món quà tình yêu lớn nhất mà cuộc đời dành tặng ông bà qua bao biến cố.

Sau khi đất nước thống nhất, bà Phượng về Đà Nẵng, làm việc ở Ban Bảo vệ bà mẹ, trẻ em và Kế hoạch hóa gia đình của tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng. Ông tiếp tục đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, làm Chủ nhiệm Chính trị Lữ đoàn 101, Vùng 5 Hải quân, tham gia giải phóng tỉnh Kô Kông (Campuchia) tháng 1-1979, rồi về Sư đoàn 2, có mặt ở các tỉnh Đông Bắc Campuchia mùa khô năm 1983-1984. Ông chỉ về công tác gần nhà khi làm ở Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Quân khu 5 rồi về hưu. Bốn người con sinh ra, phần lớn do bà chăm sóc nhưng đều học hành thành đạt, trong đó hai con trai là kỹ sư điện và điện tử.

Trong câu chuyện với chúng tôi, anh hùng Nguyễn Đức Hiền dành cho vợ những lời ngưỡng mộ: “Bà ấy cái gì cũng hơn tôi. Bà ấy thương binh hạng 2, tôi chỉ hạng 3. Tôi chỉ giáp mặt với giặc Mỹ, bà ấy đấu khẩu cả quan tòa. Bà ấy chính là anh hùng của gia đình chúng tôi”.

HỒNG VÂN