Tổ chức truy điệu chính mình!

Cuối năm 1967, Đại đội rà phá bom từ trường phà Bến Thủy được thành lập, chàng trai Nguyễn Đăng Chế được cử làm Trưởng phà Bến Thủy kiêm Đại đội trưởng Đại đội Tự vệ phà Bến Thủy (Liên quân Giao thông-Bộ đội). Chỉ hơn một năm, đơn vị đã rà phá được 232 quả bom từ trường...

Chỉ vào khúc sông Lam trước mặt, ông kể: Thời kháng chiến chống Mỹ, bom rơi trên khúc sông này chẳng sót một khoảng trống nhỏ nào! Từ năm 1965 đến 1968, khu vực phà Bến Thủy hứng chịu 2.912 trận oanh kích của máy bay và hạm đội Mỹ ngoài biển. 9 tháng của năm 1972, với 312 trận, Mỹ giội xuống đây 13.253 quả bom, pháo. Tháng 11-1972, địch tăng cường lấy xác bom đạn lấp sông, phà bị tắc hàng tuần do bom nổ chậm và bom từ trường thế hệ mới. Phương án dùng thuyền khử từ (thuyền gỗ, chốt tre) để rà phá không hiệu quả. Tỉnh Nghệ An và Bộ tư lệnh Quân khu 4 huy động tàu phóng từ hải quân vẫn không thể rà phá hết được số lượng bom dưới lòng sông. Trước tình hình đó, Trưởng phà Nguyễn Đăng Chế nêu sáng kiến dùng phà lớn, kẹp 2 ca nô mẫ lực lớn hai bên, chạy tốc độ nhanh đâm thẳng vào bom với kích từ mạnh buộc bom nổ để thông tuyến. 

leftcenterrightdel
 Ông Nguyễn Đăng Chế và cháu gái đứng trên cầu Bến Thủy, nơi mà năm xưa, dưới dòng sông Lam, ông cùng đồng đội ở đội phà Bến Thủy lái chiếc phà cảm tử phá bom từ trường. 
Đồng ý phương án của Trưởng phà Bến Thủy đưa ra, ông Nguyễn Sỹ Hòa, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An bấy giờ là người đặc trách chỉ đạo GTVT hỏi: “Ai là người chỉ huy con phà cảm tử này?". Ông Chế trả lời: “Tôi chứ còn ai nữa!”. Ông Hòa cảm động, cố nén những giọt nước mắt. Trước việc ách tắc giao thông 5 ngày liền ở phà Bến Thủy, ông không còn cách nào khác.

15 giờ ngày 23-11-1972, đơn vị tập trung tại bến bờ Bắc làm lễ xuất quân và truy điệu sống cho 5 người đi làm nhiệm vụ đặc biệt, bao gồm Đại đội trưởng Nguyễn Đăng Chế và 4 thợ lái, thủy thủ. Ông thay mặt anh em tổ cảm tử, đứng trước dòng sông Lam, thề rằng: “Tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, chúng tôi sẵn sàng hy sinh để mở đường thông tuyến”.

Xuất phát! "Vũ khí chiến đấu" gồm 1 phà và 2 ca nô mã lực lớn, rẽ sóng lao với tốc độ cao trên sông để kích nổ các loại bom từ trường. "Đến vòng thứ ba thì một quả bom phát nổ hất tung phà lên khỏi mặt nước, ca nô bật ra khỏi phà và tắt ngấm. Phà chìm ngay, cả 5 chúng tôi nổi bềnh trên mặt nước, đều bị thương nặng, được đơn vị chèo thuyền khử từ ra vớt rồi đưa đi viện" - ông trầm ngâm kể. Sau lúc ấy, có người báo tin về gia đình Nguyễn Đăng Chế đã hy sinh... Mọi người chuẩn bị làm lễ mai táng, mẹ và người vợ trẻ ngất lịm, cô con gái đầu hơn 1 tuổi cũng khóc theo. Nhưng đến 1 giờ sáng, Nguyễn Đăng Chế tỉnh lại. Anh được chuyển tuyến điều trị. Với chế độ chăm sóc đặc biệt, sau một năm anh mới bình phục, trở lại vị trí trưởng phà.

Sau trận đánh "mở đường máu" ấy, Trưởng phà Nguyễn Đăng Chế và Phó trưởng phà Nguyễn Kim Giao được Chủ tịch nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba. Ngày 31-12-1973, Đơn vị tự vệ phà Bến Thủy được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân lần thứ hai. Sau này, Trưởng phà Nguyễn Đăng Chế rút ruột những vần thơ: “Cầu lớn bắc qua/ Ai người hay biết/ Bến Thủy/ Đôi bờ máu nhớ bàn chân”.

Nghĩ về đồng đội, nhận thiệt về mình

Nhờ ông Nguyễn Ngọc Long-đồng đội cũ-dẫn đường, chúng tôi tìm đến thăm ông Nguyễn Đăng Chế ở thôn Đông Tháp, xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Người đàn ông dáng cao to, quắc thước, nụ cười tươi, giọng nói sang sảng ra đón chúng tôi. Ít ai nghĩ rằng ông đã cận kề tám mươi xuân! Ông Nguyễn Đăng Chế ôm chặt ông Long, người bạn chiến đấu năm xưa như không muốn rời ra, hai người bạn bước ra từ mưa bom bão đạn ôn lại biết bao chuyện, giọng ông bỗng chùng xuống khi khơi gợi về những kỷ niệm một thời ở túi bom Bến Thủy.

Trong ký ức của ông Long luôn nhớ về hình ảnh người Trưởng phà Nguyễn Đăng Chế cao lớn năm xưa, tính nóng như lửa, tay lúc nào cũng đeo băng đỏ, dầm mưa đội nắng dẫn đường cho các đoàn xe vào chiến trường. Với ông Long, ông Chế luôn là chỗ dựa tinh thần của toàn đơn vị. Còn ông Chế gọi đó là “một thời ngang dọc”, toàn tâm toàn ý cho nhiệm vụ. Mẹ ốm liệt giường, việc nhà cần kíp, ông vẫn không xin nghỉ. “Hồi đó, đâu chỉ có mình tôi mà cả tập thể đều thế. Không ai nghĩ đến thành tích, danh hiệu, tất cả dốc lòng vì sự nghiệp chung. Giờ nghĩ lại, thấy thương anh em vô cùng”.

Quân-cán năm xưa, đồng đội thâm giao ngày nay, ngồi bên nhau để bát chè xanh nguội ngắt khi hai người mãi nói về những đồng đội đã hy sinh. Ông Long trầm tư: “Ngày đó yết hầu Bến Thủy là nơi đế quốc Mỹ nướng bom đạn, nhằm chia cắt giao thông tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Đơn vị đã họp và biểu quyết đề nghị cấp trên tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Trưởng phà kiêm Đại đội trưởng Đại đội tự vệ phà Bến Thủy Nguyễn Đăng Chế. Lúc đó, anh Chế đang bị thương nặng, anh từ chối nhận khen thưởng vì đơn vị lúc đó đang đau buồn trước sự hy sinh của nhiều đồng chí".

Ông Nguyễn Kim Giao, đồng đội cùng thời với ông Chế đã từng viết: "Tôi nhớ rất rõ ngày ấy, khi được tỉnh làm hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, anh Chế khiêm tốn nói: “Sự hy sinh, cống hiến của tôi chưa thể bằng những người đã dũng cảm hy sinh khác. Ví dụ như 21 công nhân phà Bến Thủy bị bom dập, bom vùi và nhiều chiến sĩ lái xe đã ngã xuống ở dòng sông Lam, họ mới thật xứng đáng là anh hùng”. Tinh thần ấy luôn thường trực trong con người Nguyễn Đăng Chế đến tận hôm nay. Ông sống bình dị, nghĩa tình với láng giềng, thanh tịnh với những vần thơ, những việc thiện. Thấy ai khó khăn, ông lại chắt chiu từng đồng lương hưu giúp họ và thường xuyên tham gia hoạt động thiện nguyện...

Bước ra từ mưa bom bão đạn, ông thấy mình còn hạnh phúc, may mắn hơn nhiều đồng đội đã ngã xuống, nhiều người bị thương nhưng chưa được hưởng chính sách do giấy tờ chứng thực không giữ được, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Ký ức về một thời bi tráng đã dâng niềm cảm xúc trong những vần thơ: “Nỗi niềm cào xé con tim/ Tiếng bom ngày ấy đêm đêm dội về”. Cùng chúng tôi trở lại thăm bến phà năm xưa, nay đã "mọc" lên hai cây cầu kiên cố, những dấu tích xưa ngày càng bị xóa mờ, ông trăn trở: “Lầm lũi bao năm vượt sông sâu/ Đạn bom hủy diệt chẳng cúi đầu/ Chiến công hiển hách còn ghi tạc/ Cầu đã bắc rồi, phà ở đâu?”. Chắc chắn những vần thơ ấy sẽ là "bảo tàng tinh thần" trong ông, thổn thức cùng ông với lẽ sống, giúp ông sống vui khỏe, có ích và sống có tâm, có tầm của một người rất xứng đáng với danh hiệu anh hùng...

 Bài và ảnh: NGUYỄN VĂN HẠNH