Phụ nữ nghiên cứu khoa học cần nỗ lực gấp đôi

Phụ nữ nghiên cứu khoa học tưởng chừng sẽ rất khô khan, nhất là một người phụ nữ có hàng loạt công trình nghiên cứu khoa học công nghệ quân sự được đánh giá cao như chị. Nhưng, khác với những gì tôi hình dung trước khi gặp, chị nhẹ nhàng, tình cảm và giống như nhiều phụ nữ làm khoa học khác, chị rất khiêm tốn khi nhắc về những thành tích. Cũng bởi, những người làm công việc nghiên cứu khoa học vốn chăm chỉ, kiên trì, lặng lẽ… và với một người phụ nữ thì còn cần nhiều hơn thế.

leftcenterrightdel
Thiếu tá, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoài Phương. 

Với hướng nghiên cứu sử dụng kỹ thuật hóa học để chế tạo vật liệu, chị Phương tâm sự: “Được làm công việc đúng chuyên môn nên với bản thân tôi không thấy quá khó nhưng đây là công việc thật sự vất vả. Ngành kỹ thật vốn đã vất vả, ngành hóa học ngoài vất vả còn độc hại, nhiều rủi ro nữa”. Đặc thù công việc liên quan đến nhiều vũ khí, khí tài quân sự thường phù hợp với nam giới. Phụ nữ như chị ngoài công việc còn lo chu toàn cho gia đình, thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ nên phải nỗ lực, cố gắng gấp đôi. Đó là những khi hết giờ làm việc ở cơ quan, về nhà chăm sóc gia đình. Khi con đã ngủ yên giấc, chị mới ngồi học, nghiên cứu tài liệu. Những lần đi công tác xa dài ngày, đêm trằn trọc không ngủ vì thương, nhớ con nhỏ…

Chị và các đồng nghiệp vẫn thường trêu nhau, “nghiên cứu hóa học là đổ lọ này vào lọ kia, lắc lắc, nhìn nhìn rồi đổ đi”. Những ngành khoa học thực nghiệm luôn phải tiến hành thí nghiệm rất nhiều lần và nhiều khi thí nghiệm không cho được kết quả gì. Có những sản phẩm, 70% là thất bại. Nhưng vì yêu nghề và cũng là nhiệm vụ mà hầu hết các công trình chị và các đồng nghiệp trong viện đều quyết tâm làm ra sản phẩm cuối cùng. 

Trước đây, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu còn hạn chế. Một phòng diện tích hơn 20m2 có đến 4, 5 người vừa làm việc, vừa thí nghiệm, vừa sản xuất luôn tại phòng. Những năm gần đây, điều kiện làm việc được cải thiện hơn cũng khiến cho cán bộ, nhân viên của viện được phát huy hiệu quả công việc tốt hơn. Nhưng, trong khi làm thí nghiệm, dụng cụ thủy tinh có thể vỡ, nổ trên tay bất cứ lúc nào. Thậm chí, có thể nổ, hỏng cả hệ thống máy, thiết bị thí nghiệm đắt tiền. “Đôi khi, vào phòng thí nghiệm cũng run, sợ rủi ro làm hỏng đồ đắt tiền nhưng được sự ủng hộ, động viên của thủ trưởng các cấp nên chúng tôi vẫn cứ say mê với nghiên cứu thôi", chị Phương trải lòng. 

Có lẽ, từ say mê, trách nhiệm với công việc mà bản thân chị Phương luôn không ngừng trau dồi, học hỏi kỹ năng để thể hiện được kiến thức của mình và tránh, giảm thiểu được những rủi ro trong công việc. Đồng thời, để những sản phẩm nghiên cứu có giá trị thực tiễn và đưa vào ứng dụng thì cần bám sát các đơn vị, tiếp cận đến các nhà kho, đến với những dây chuyền sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng vũ khí trang bị kỹ thuật.

“Trách nhiệm quân nhân thôi thúc tôi”

Chỉ từ năm 2010 đến 2016, Thiếu tá Nguyễn Thị Hoài Phương đã chủ trì thực hiện 6 đề tài và tham gia 14 đề tài, nhiệm vụ các cấp được nghiệm thu thành công. Và, trong Sách vàng sáng tạo Việt Nam năm 2016, có tên của chị. Để có được những công trình ấy, không chỉ nhờ năng lực chuyên môn của bản thân chị Phương mà còn có sự hỗ trợ, giúp đỡ của lãnh đạo, đồng nghiệp… Nhưng, một nguồn động lực lớn với chị chính là từ những câu chuyện thực tế chị được trải nghiệm. 

“Qua những lần đi công tác thực tế tại các đơn vị, các nhà kho ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, tôi được chứng kiến sự thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần, thấu hiểu sự hy sinh thầm lặng của đồng đội để bảo vệ trang thiết bị, vũ khí, khí tài quân sự. Tôi cứ nghĩ, mình phải có trách nhiệm với công việc, với đồng đội hơn bao giờ hết”, chị Phương nói. Trong một chuyến đi công tác ở Trường Sa, chị đã được tận mắt nhìn thấy tác hại của môi trường khắc nghiệt đối với vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự. “Trách nhiệm quân nhân thôi thúc tôi phải làm điều gì đó để bảo vệ hệ thống vũ khí trang bị rất đắt tiền mà Đảng, Nhà nước, quân đội đã đầu tư cho mục đích bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc”. Nghĩ vậy, chị Phương cũng bắt đầu ấp ủ về việc nghiên cứu một loại vật liệu có thể hạn chế được sự xuống cấp của vũ khí trang bị tại khu vực biển đảo… Và với tất cả tình cảm, trách nhiệm, quyết tâm của chị, công trình nghiên cứu “Nâng cao và kéo dài thời gian bảo quản đối với vũ khí trang bị kỹ thuật” do chị là tác giả đã được hoàn thành, có giá trị thực tiễn cao. Công trình đã giành nhiều giải thưởng và được đăng trong Sách vàng sáng tạo Việt Nam năm 2016.

Trên thế giới, những sản phẩm tương tự như của Thiếu tá Phương nghiên cứu đã có trước đây 20 năm, còn ở Việt Nam, đây được coi là sản phẩm cải tiến trên nền sản phẩm truyền thống. Chị kể, trong quá trình thực hiện, khó khăn nhất có lẽ là giai đoạn triển khai làm thực nghiệm… 

Đầu tiên, chị phải tìm cách xin được mẫu của nước ngoài về phân tích, đánh giá. Nhưng do trang thiết bị của viện chưa đầy đủ nên chị phải đi gửi các đơn vị ngoài có thiết bị phù hợp để nhờ phân tích cùng. 

Khi triển khai sản xuất thử nghiệm, thiết bị của viện chưa đáp ứng được về quy mô, khả năng kiểm soát trong quá trình thực hiện công nghệ chưa được hiện đại, chuẩn xác. Lúc này, chị cùng các đồng nghiệp lại phải chia nhau đi tìm nơi có trang thiết bị phù hợp với việc chế tạo sản phẩm để nhờ giúp. May mắn, trong nhóm thực hiện có một người tìm đến các làng nghề sản xuất, có nhiều hệ thống máy móc phù hợp. Tìm được thiết bị phù hợp rồi nhưng các cơ sở sản xuất đều lắc đầu khi chị Phương trình bày nguyện vọng... Bản thân chị Phương và các đồng nghiệp đều hiểu rõ một điều: Thật khó để các chủ cơ sở ấy dừng công việc làm ăn của họ lại vì một người lạ. Hơn nữa, việc sản xuất thử nghiệm mất thời gian và chứa rất nhiều rủi ro, trong khi hệ thống máy móc, thiết bị của các cơ sở này đều là cả một gia tài với họ. 

Thế nhưng, may mắn lại một lần nữa đến với chị khi có một chủ cơ sở sản xuất trẻ tuổi, sau một thời gian suy nghĩ đã sẵn sàng giúp đỡ chị. Anh quyết định dừng lại một số mẻ sản xuất theo đơn đặt hàng để nhường máy cho chị Phương dùng và hỗ trợ chị thực hiện sản xuất thử nghiệm sản phẩm. “Cả hai anh em chúng tôi đều lo lắng, liệu sản phẩm có đáp ứng được yêu cầu không? Quá trình thực hiện có làm hỏng hệ thống máy móc của người chủ tốt bụng hay không?... Quá trình đưa nguyên liệu vào hệ thống máy móc, thiết bị sản xuất đã xuất hiện những hiện tượng bất thường. Lo lắng, chị nói với người chủ máy: Hay dừng lại! Tôi không thể liều lĩnh làm hỏng thiết bị tiền tỷ của anh được. May là sau những lần sản phẩm bị hỏng, sản phẩm đã được sản xuất thử nghiệm thành công.

Báo cáo kết quả thử nghiệm, chị Phương được đơn vị tiếp tục giao nhiệm vụ hoàn thiện sản phẩm. Đến nay, Viện Hóa học-Vật liệu đã có thể chủ động trong công nghệ để tạo ra những sản phẩm hoàn chỉnh dùng trong công tác bảo quản trang thiết bị kỹ thuật. Một số sản phẩm đã và đang được thử nghiệm, sử dụng ở các đơn vị của Cục Quân khí, Cục Kỹ thuật Binh chủng thuộc Tổng cục kỹ thuật; Quân chủng Hải quân... thu được kết quả cao, như: Dung dịch biến tính gỉ tạo màng lót BTG, Dung dịch vecni VĐ bảo vệ bề mặt, Màng hấp thụ khí ăn mòn KT-11-21… Các sản phẩm này đã được ứng dụng thử nghiệm với một số vũ khí trang bị như: Đạn pháo cao xạ 37mm, 57mm... tại các vùng miền khí hậu khác nhau. 

Kết quả ứng dụng các sản phẩm đã mang lại một giải pháp tổng thể từ việc bảo vệ bề mặt bằng các màng phủ đến việc ngăn cản sự xâm nhập và tác động của môi trường bên ngoài bằng màng bao gói, góp phần nâng cao hiệu quả và kéo dài thời gian bảo quản với vũ khí trang bị kỹ thuật. Ngoài ra, còn một số sản phẩm khác thuộc công trình nghiên cứu đang trong quá trình nghiệm thu. “Để một công trình nghiên cứu có giá trị và sức sống thì nó cần được ứng dụng trong thực tế. Bởi vậy, bản thân tôi sẵn sàng chuyển giao công nghệ cho các đơn vị, cơ sở đủ điều kiện thực hiện và có nhu cầu cũng như sẵn sàng cung cấp sản phẩm sử dụng cho các đơn vị để bảo quản, niêm cất vũ khí trang thiết bị.”-Thiếu tá Nguyễn Thị Hoài Phương nói.

Bài và ảnh: THU HÒA