Ngô Xuân Thông "đẻ" các tác phẩm văn nghệ như người mắc nợ đời. Không bị ai đòi cũng cứ tận tụy trả! Chỉ tính từ khi nhận chức Chủ nhiệm Nhà văn hóa Tổng cục Hậu cần (1981), dù bận công tác quản lý nhiều bộ môn, ông vẫn sáng tác 3 vở kịch nói: Chiếc mũ của anh ấy (1982), Lái xe H13 và Ngã ba đồng đội (1984). Từ  khi nghỉ hưu (1991), ông "mắn" hơn nhiều. Sau vở Hồi chuông cảnh tỉnh (1993) là "sòn sòn ba năm bốn": Từ năm 1995 đến năm 1997 với các tác phẩm: Hoa hậu thông tin, VàngTình đời đắm đuốiKỷ vật để lại. Tất cả 8 vở nói trên đều được ông trực tiếp dàn dựng cho một số đơn vị nghệ thuật tham gia hội diễn cấp toàn quân, toàn quốc và đều đoạt Huy chương Vàng. Đấy là chưa kể đến hàng chục tác phẩm kịch và chèo của ông đã giành giải cao tại các hội diễn, hội thi tỉnh Thái Bình, như: Nếp tẻ, Cốc cò, Cháy, Vui bằng chết, Cuộc họp thôn, Vợ vắng nhà, Ra là thế, Vợ chồng phó cối, Chuyện tình Cam Quýt, Giá đời, Màu cam chín, Chuyện mèo và chuột... Bên cạnh món sở trường là sân khấu, Ngô Xuân Thông còn có tài ứng tác thơ ca, hò vè, đặc biệt là làm thơ trào phúng và đặt lời hát dân ca.

Hầu hết tác phẩm của Ngô Xuân Thông đều đoạt giải cao trong các hội thi, hội diễn cấp toàn quân hoặc cấp tỉnh trở lên là bởi chúng được sinh ra từ sự nhạy cảm trước những "chi tiết góc cạnh" của hiện thực đời sống, đậm chất nhân văn. Tính giáo dục nhận thức được mang lại bởi phong cách hài hước, hóm hỉnh, làm cho khán giả, độc giả thích thú; người có tật thì giật mình, nhưng là những cái giật mình... ngọt ngào. Tiểu phẩm "Tình Đèo Đất" là một ví dụ.

leftcenterrightdel
Cựu chiến binh Ngô Xuân Thông bên người vợ thân thương (năm 2016). 

Chuyện là, mùa khô năm 1971, Thiếu úy Ngô Xuân Thông dẫn Đoàn Tuyên văn của Binh trạm 11, Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần đi biểu diễn phục vụ Tiểu đoàn 2 công binh, tại Đèo Đất thuộc khu vực Cánh Đồng Chum-Xiêng Khoảng (Lào). Trong đoàn có nữ chiến sĩ Trần Kim Thanh quê Nghệ An, trẻ, xinh, múa giỏi, hát hay. Khi đoàn tập hợp để chia tay đơn vị, Kim Thanh vẫn còn đi tìm chiếc áo nhỏ mà lúc sáng cô phơi trên dây cạnh dòng suối, giờ không thấy đâu. Đó là chiếc áo đẹp nhất, Kim Thanh chỉ mặc trong các buổi biểu diễn phục vụ bộ đội...

Tiểu đoàn trưởng hạ lệnh toàn đơn vị tìm áo cho Kim Thanh. Trên cạn không thấy thì mò suối, tranh thủ lúc nghỉ trưa, tìm bằng được để Đoàn Tuyên văn kịp đến biểu diễn phục vụ đơn vị khác cách đấy hàng chục ki-lô-mét đường đèo. Cán binh trần trùng trục chuẩn bị ào xuống suối thì bất ngờ, một chiến sĩ tiến về phía Tiểu đoàn trưởng, hét lên: "Cho tôi nói đã!". Tất cả đều ngỡ ngàng. Chàng lính trẻ quỳ xuống cách 3m đối diện Tiểu đoàn trưởng, mắt đỏ hoe: "Anh ơi! Anh tha cho em. Chính em đã giấu chiếc áo của Kim Thanh. Em xin mang ra bây giờ!"...

Chiếc ba lô của người lính công binh đã 3 năm làm nhiệm vụ trong núi rừng Xiêng Khoảng được chủ nhân của nó tự mở ra ngay giữa sân. Mọi người lặng đi khi thấy bên dưới hai bộ quân phục bạc phếch màu đất rừng là chiếc áo nhỏ của người nữ diễn viên được gói cùng với mấy quyển sách giáo khoa lớp 10 phổ thông đã sờn gáy trong tấm vỏ bao xi măng. Tiểu đoàn trưởng khẽ chau mày rồi ôm chặt chàng lính trẻ như ôm đứa em trai bé bỏng của mình. Tay anh vỗ vỗ vào lưng cậu, giọng trầm trầm: "Thu! Em rất đáng quý!"... Mọi việc ổn thỏa. Chiếc xe chở Đoàn Tuyên văn chuyển bánh. Những cái vẫy tay nồng nhiệt chào tạm biệt. Nữ diễn viên Kim Thanh tựa vào thành xe, nhìn đăm đăm về phía những người lính công binh... Sau ngày toàn thắng 1975, được sự giúp đỡ của anh Ngô Xuân Thông, Kim Thanh tìm được Thu. Họ nên vợ nên chồng và chuyển ngành ra một nông trường trồng cam ở miền Trung...

Không chỉ với tác phẩm sân khấu, khi sáng tạo thơ ca, Ngô Xuân Thông cũng chú ý khai thác những chi tiết nhạy cảm thường nhật, rọi qua "lăng kính" văn hóa để tạo ra giá trị nghệ thuật.

Năm 1985, cả nước đang thiếu thốn, khó khăn. Trong dịp được tranh thủ về quê (thôn Then, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) mang cho các con ít sách vở vào năm học mới, ông đã viết tặng một người làng bên: "Đại tá về hưu cũng vớt bèo/ Cùng bà xã nuôi một chú heo/ Chẳng như cụ Lã ngồi câu cá/ Vì lẽ giản đơn: Đất nước nghèo!". Trưa 30 Tết năm ấy, vị "Đại tá vớt bèo" mang đến tận nhà tặng ông một bát tiết canh và cái cẳng giò lợn đã ninh nhừ. Ông kể lại rằng: "Nó ngon đến tận giờ. Mà có thể... nó còn ngon mãi về sau!".

Tết được về phép, ngồi giúp vợ giã cơm nếp để đóng bánh giầy, ông nảy câu ca: "Để nên một chiếc bánh tròn/ Gian lao, cối mẻ chày mòn... hề chi!"-Nỗi niềm khiến ta khó giấu nỗi chạnh lòng!

Ngô Xuân Thông có hai người bạn cựu chiến binh cùng tuổi 65, một nam, một nữ, đều tên là Đàn. Khi họp mặt, cứ phải gọi "Đàn ông", "Đàn bà" để không lẫn lộn. "Đàn ông" bị mất răng ở chiến trường xưa, nay dùng răng giả, lại mắc chứng viêm ruột, uống quá nhiều kháng sinh thành ra "cạn kiệt" men tiêu hóa, ăn cơm chẳng thấy ngon. Bởi thế, sáng sáng "Đàn ông" cứ phải ăn hàng chợ. Lúc tô phở, khi bát cháo; hai bữa chính thì ở nhà quây quần cùng vợ con, nhằm "duy trì nếp sống văn hóa gia đình". Ngô Xuân Thông liền viết tặng bạn: "Đàn ông" thì phải ăn quà/ Ăn quà nhưng vẫn về nhà ăn cơm/ Ăn cơm như thể nhai rơm/ Cho nên vẫn phải vừa cơm vừa quà!"...

Những vần thơ mộc mạc nhưng không thiếu nhân tình ấy của Ngô Xuân Thông đã góp phần điểm tô cho cuộc sống quanh ta.

Nghỉ hưu vào những năm đất nước sôi động đổi mới, người giỏi ứng tác văn nghệ như Ngô Xuân Thông có thể chuyên tâm vào làm giàu bằng nghề. Nhưng ông lại vui vẻ khi được Đảng ủy xã Thái Phương phân công làm cán bộ tuyên giáo xã, rồi kéo dài tới 13 năm liền! Vào tuổi 70, tất bật chăm nom vợ ốm..., ông vẫn cùng hội Hương lão lo giữ ấm miếu Hoa Dương Linh Từ thuộc khu đền thiêng của địa phương với đằm thắm tình đời.

Ngô Xuân Thông không có tiền bạc để dành, nhưng "ông ấy là người giàu nhất mà tôi từng biết"-cựu giáo chức (tiểu học) Nguyễn Thị Bích Hường đã nói về chồng mình như vậy với bạn bầu trước khi bà về cõi vĩnh hằng. Sinh thời, bà vẫn tự hào về ông-một người lính yêu nghệ thuật, đã cùng vợ-cô giáo tiểu học trường làng thời bao cấp nuôi dạy ba người con trai trở thành những cán bộ của Đảng, gia thất yên vui. Đồng đội, đồng nghiệp, đồng chí, anh em, bà con hàng xóm láng giềng ai cũng quý mến, "chín bỏ làm mười"... Và, vàng bạc ư? Đã mấy ai có được 8 Huy chương Vàng tác phẩm sân khấu như ông!

Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG