Câu nói như lời mời mọc, rủ rê, vừa dân dã, thân thiết, nửa hối thúc, nửa chèo kéo, trong lòng cảm thấy thanh bình và êm ả. Mặc nhanh cái áo, xỏ vội đôi dép rọ, tôi cùng cậu hàng xóm tung tăng xách đồ nghề ra sông. Ngày cuối thu, cái se lạnh ào qua, cơn gió nhẹ vờn đến, mặc cho cái nắng hanh hao ve vãn. Vươn người, nhắm mắt, hít hà căng lồng ngực bầu không khí sạch, cảm giác sảng khoái. Sướng!

Cách cầu Long Biên không xa, hòa giữa phố phường nhộn nhịp, có một ngôi làng thơ mộng, nằm nép mình giữa sông Hồng và sông Đuống. Đó là làng Bắc Cầu (nay là phố Bắc Cầu, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, TP Hà Nội). Dù được gọi là phố, nhưng trong sâu thẳm ký ức người dân, đây vẫn là ngôi làng bình yên và trù phú. Từ bao đời nay, đàn ông quen với việc chài lưới trên sông, phụ nữ luôn cần mẫn, nhọc nhằn trên những bãi bồi phù sa màu mỡ của dòng sông bồi đắp. 

Ngày về đây mua đất, người thân rần rần phản đối. Cũng đúng thôi, đang giữa phố trung tâm sầm uất, đùng cái chuyển nhà ra nơi heo hút, đi làm phải qua cầu, ngày nắng thì ổn, nhưng ngày mưa gió, rồi mùa đông ken giá rét, mưa dầm mà qua sông thì… Chỉ nghĩ vậy thôi, nhiều người đã lắc đầu lè lưỡi. Mặc lời bàn ra tán vào, ý đã quyết, lòng đã thuận thì chẳng có gì phải đắn đo. Hàng xóm tôi, một người đàn ông tốt tính, thẳng thắn và tử tế. Nhưng số phận cũng thật nghiệt ngã với người đàn ông ấy, ngày cậu được sinh ra cũng là ngày người mẹ thân yêu rời xa cõi tạm, rũ bỏ bụi trần phiền muộn để về với tổ tiên, với cõi vĩnh hằng. Mất mẹ, còi cọc nên gia đình đặt luôn cái tên Hoàng Côi (côi cút), vừa thương xót, vừa như nhắc nhớ người lớn phải trách nhiệm với sinh linh bé bỏng này. 

leftcenterrightdel
Minh họa: HƯƠNG LY

Hôm sang xem đất, đúng bữa cơm trưa, vợ chồng chủ đất bảo đây là đất của ông cha để lại. Đảo một vòng, mê luôn! Chủ nhà nói giá, khách gật đầu. Chỉ là giao dịch miệng, không một lời cò kè thêm bớt, cũng chưa hề đặt cọc. Khách chào ra về, mâm cơm trên bàn vẫn nóng thơm quyến rũ.

Thời điểm đó, giá đất Hà Nội leo thang vùn vụt. Ít ngày sau mang tiền đến đặt cọc mới tá hỏa biết rằng có nhiều người khác cũng thích mảnh đất ấy và sẵn sàng trả vênh lên hàng trăm triệu đồng để sở hữu nó. Thoáng trong đầu, một suy nghĩ không mấy tích cực hiện hữu, với số tiền chênh lệch quá lớn như thế, khó mà giao dịch được. Giữa lúc phân vân, gương mặt người đàn ông điềm đạm cùng giọng nói chắc nịch cất lên: Hứa bán cho anh chị thì cứ giá cũ ta quyết, em không nói hai lời. Người đàn ông “nhất ngôn” ấy không ai khác chính là Hoàng Côi.

Tiếng máy nổ giòn giã, con thuyền ngược dòng lên ngã ba sông, nơi giao thoa giữa sông Hồng và sông Đuống. Lúc này tôi mới được chìm đắm vào cảnh đẹp của hai bên bờ và hiện lên bức tranh “quê trong phố”. Mới cách đây hơn chục năm, làng Bắc Cầu này còn nguyên sơ nếp sống dân dã của người bản địa, vườn nhà nào cũng rất rộng, trồng nhiều khế và chuối. Khi cơn lốc đô thị hóa phát triển, nhiều văn nghệ sĩ đã chọn nơi đây làm “chốn đi về”. Bởi, giá cả thì phải chăng, mà được thụ hưởng trọn vẹn bầu không khí sạch và môi trường tự nhiên. Từ các nhà văn, nhà báo đến các họa sĩ, nhà điêu khắc… khi đặt chân đến đây rồi cũng bị “nghiện” với vùng đất có hai dòng sông này.

Trong quan niệm dân gian thì sông là nguồn nước lưu thủy, dẫn phúc về cho làng. Nước không chỉ có ý nghĩa trong sinh hoạt hằng ngày mà còn là nét độc đáo trong văn hóa tín ngưỡng. Cũng ngày cuối tuần gần đây, gia đình chị bạn thân ở xóm trên đến chơi. Điều đặc biệt là các thành viên đến với đôi “chân trần” lấm lem bùn đất. Hóa ra đó là sinh hoạt thường nhật mà cả gia đình chị đều có chung sở thích. Khi tôi còn chưa hết ngạc nhiên, chị chia sẻ thêm: “Ngày còn ở trong phố, quanh năm đút chân gầm bàn, lâu dần chân tay tê mỏi, thuốc thang nhiều nơi nhưng cũng chẳng cải thiện là mấy. Từ ngày về đây, đôi chân được chạy nhảy, bàn chân được tiếp đất, âm dương cân bằng, người khỏe khoắn, ăn uống tốt, ngủ ngon, sáng dậy thấy người nhẹ bẫng”. Nói xong, chị cười rạng rỡ, ánh mắt lấp lánh niềm lạc quan.

“Đất lành chim đậu”, lời dạy của các cụ xưa quả không sai. Ai về đây sống một thời gian cũng dường như nhuận sắc, tính cách nền nã, ngày càng cởi mở và thân thiện hơn. Ngay chuyện ăn cơm hàng xóm cũng vậy, thoáng nghe thấy kỳ lạ, khi tham gia rồi cũng bị nghiện như chơi. Cứ dăm ba nhà sát nhau, tự nấu theo khẩu vị riêng của mỗi gia đình, rồi tụ tập một nhà nào đó ăn chung. Bữa cơm đơn giản hằng ngày bỗng nhiên biến thành mâm cỗ đầy đặn. Lạ miệng lại đông vui nên cảm thấy ăn rất ngon miệng. Vèo cái, mâm cơm sạch bách. Trẻ con ăn xong vuốt bụng đứng dậy kéo nhau đi chơi, người lớn nán lại, pha ấm trà thơm ngồi đàm đạo, hàn huyên, sẻ chia công việc và những kinh nghiệm sống… Đang mải miên man với dòng suy nghĩ, bỗng con thuyền tròng trành, xoay ngang như sắp lật úp. Bằng phản xạ tự nhiên, tôi quàng tay nắm chặt chiếc phao cứu hộ, quay sang thấy cậu hàng xóm cười tươi, bảo chỉ là gặp vụng nước xoáy thôi, rồi anh sẽ quen.

Cái tên “Bắc Cầu” từng là câu hỏi lớn của rất nhiều khách thập phương khi đến đây. Theo các cụ cao niên trong làng kể lại: Vào thời vua Lý, khi ngài về thăm quê Bắc Ninh, qua vùng đất này thì gặp dòng chảy (sông Đuống hay còn gọi là sông Đào, trước kia chỉ là dòng chảy nhỏ, sau này được đào rộng và sâu thêm như ngày nay) không đi được, dân làng liền chặt cây cối trong vườn để bắc cầu cho nhà vua qua sông. Trước thịnh tình ấy, nhà vua đặt tên là làng Bắc Cầu để ghi nhận tấm lòng của bà con. Câu chuyện là vậy, nhưng để xác minh tính xác thực thì phải cậy nhờ các nhà sử học.

Dừng thuyền ở giữa ngã ba sông, hướng mắt về Thủ đô, một góc nhìn khá lạ lẫm, mang theo cảm xúc vô cùng đặc biệt. Nếu đứng trên cao nhìn xuống, sông Hồng như dải lụa mềm bao quanh Hà Nội, dải lụa ấy có những họa tiết bằng thảm cây xanh, điểm nhấn tạo nên vẻ đẹp xanh và sạch cho thành phố ngàn năm tuổi. Mùa này cỏ lau đang trổ bông, cả bãi giữa sông Hồng mềm mượt những bông lau trắng xóa mọc ken dày tầng tầng lớp lớp, tinh khiết và nguyên sơ, những bông lau ấy khơi gợi hình ảnh “Cờ lau tập trận” và khí chất anh hùng thời niên thiếu của vị Hoàng đế họ Đinh. Phía xa, ẩn hiện vài ô nhịp cầu Long Biên lặng lẽ soi rọi xuống dòng sông, không gian trầm mặc như khoác trên mình chiếc áo thời gian trên cây cầu lịch sử. Mỗi mùa mưa, nước từ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về, bãi giữa chìm sâu, cảm giác cây cầu nối vào nội đô được đẩy xa hơn theo ngút ngàn tầm mắt.

Sắc vàng hắt ngược từ phía đằng tây, nhuộm tím chiều hoàng hôn. Hoàng Côi rụt rè, giục giã: Ngã ba sông này là “chốn thiêng”, nơi dành riêng cho các đấng thần linh, người phàm trần không nên bén bảng quá lâu. Chả biết thực hư thế nào, chỉ biết rằng đứng ở đây, vừa có thể trông về Thủ đô, vừa có thể nhìn sang Cổ Loa thành (Đông Anh). Đúng là vị trí đắc địa! Trộm nghĩ, biết đâu hơn ngàn năm về trước, đức vua Lý Công Uẩn cùng đoàn tùy tùng cũng từng vi hành qua ngã ba sông này, với “long nhãn” của vị vua anh minh đã nhìn ra vượng khí của địa thế rồng bay mà ngài có quyết sách sáng suốt cho việc dời đô lịch sử?

Thuyền chúng tôi rời “chốn thiêng” vào sát bờ, cũng là lúc màn đêm buông xuống, người đàn ông “côi cút” lại trở về với công việc mưu sinh hằng ngày, giăng lưới bắt cá. Lúc này, sự im lặng tuyệt đối là cần thiết, nếu chỉ nghe tiếng động nhỏ cá cũng sẽ chạy hết. Đi dưới ánh trăng màu bạc, bóng hai người đàn ông và con thuyền đổ dài trên mặt sông, mỗi lần có con sóng chạy qua là hình ảnh ấy lại xê dịch, loang loáng ánh trăng non. Ngoài tiếng nước vỗ oàm oạp vào mạn thuyền, còn có cả tiếng gió hát rì rầm cùng dòng sông, thi thoảng có cả tiếng cá quẫy bắt mồi đâu đó quanh đây.

Ghi chép của PHÙNG MINH