Một tác phẩm sân khấu chỉ được hình thành trong quá trình trình diễn trước công chúng. Và công chúng, bằng thái độ thưởng thức, sẽ có những tác động ngược trở lại với diễn viên ngay trong không gian sân khấu. Do vậy, vai trò của khán giả không chỉ dừng lại là người tiêu thụ sản phẩm, mà còn trở thành một thành tố tạo nên tác phẩm sân khấu.

Vì lẽ ấy, cũng như ở bao nơi khác, “số phận” sân khấu Thủ đô phụ thuộc rất lớn vào khán giả.

Thế nhưng, đi ngược lại với vai trò lớn lao của mình, hơn một thập kỷ trở lại đây, khán giả Hà Nội đã không còn mặn mà với những tác phẩm kịch, những trích đoạn cải lương hay những vở tuồng. Sân khấu-nơi “vang bóng một thời”-cũng không còn là một "thánh đường" nghệ thuật với nô nức những gương mặt, những ánh mắt háo hức.

Vì đâu sân khấu lại rơi vào khoảng lặng đầy tiếc nuối đến vậy? Vì sao khán giả đã không còn mặn mà với một tấm vé mời, chứ chưa nói đến chuyện chi một khoản tiền để đến một nhà hát? Đó là những câu hỏi đã được đặt ra trong hơn một thập kỷ qua và người làm nghệ thuật sân khấu vẫn loay hoay đi tìm câu trả lời.

leftcenterrightdel
Cảnh trong vở “Lời nói dối cuối cùng” của Nhà hát Tuổi trẻ. Ảnh: VĂN NAM

Nhiều nguyên nhân đã được đề cập tới. Đó là chuyện đời sống tinh thần nay đã “sung túc” hơn với nhiều loại hình văn hóa giải trí thời thượng. Là chuyện thời đại công nghệ bùng nổ với vô vàn màn ảnh màu lớn nhỏ thay nhau “đốt” quỹ thời gian ít ỏi mỗi ngày. Là chuyện mưu sinh cơm-áo-gạo-tiền khiến chẳng ai đủ “tâm hồn” mà thưởng thức nghệ thuật “xa xôi”. Rồi cả chuyện sân khấu chỉ là niềm vui của những người lớn tuổi muốn hoài niệm quá khứ…

Những nguyên nhân ấy, ắt hẳn không sai! Nhưng tại sao giữa một Niu Y-oóc (Mỹ) nhộn nhịp, bất chấp các bộ phim điện ảnh bom tấn, những kênh truyền hình tiếng tăm, những trò chơi giải trí hiện đại, cụm sân khấu Broadway (gồm gần 40 nhà hát chuyên nghiệp) vẫn có riêng cho mình một chỗ đứng vững chắc với những vở diễn “cháy” vé hằng đêm?

Trong đời sống sân khấu, kịch là một trong những loại hình ra đời đầu tiên và cho thấy sự liên kết chặt chẽ với đời sống đương đại. Kịch của thời kỳ La Mã-Hy Lạp cổ đại luôn phản ánh số phận bi kịch của con người với khát vọng vươn lên khỏi những áp bức. Kịch ở cuối thời Phục hưng thể hiện những bất cập của chủ nghĩa phong kiến và đánh dấu sự khởi đầu của giai đoạn tiền tư bản. Còn kịch của thế kỷ 19 lại nói lên những biến động xã hội gay gắt và sự đấu tranh của cách mạng tư sản tại châu Âu. Dù vào Việt Nam muộn nhưng đời sống kịch ở ta cũng hòa chung dòng chảy của thế giới. Trước năm 1975, những vở kịch nói của giai đoạn này luôn đề cập đến đề tài chiến tranh cách mạng, tinh thần yêu nước. Đến thập niên 1980, những vở kịch “đình đám” lúc ấy như: “Tôi và chúng ta”, “Người tốt nhà số 5” (tác giả Lưu Quang Vũ)… đều phản ánh đời sống xã hội thời bấy giờ.

Kịch nói riêng và các loại hình sân khấu nói chung luôn phản ánh những diễn biến của đời sống xã hội đương đại. Đó chính là những chủ đề người xem quan tâm nhất, theo dõi nhiều nhất. Thế nhưng, trong hơn một thập kỷ trở lại đây, những đề tài của sân khấu Thủ đô lại tập trung vào các mâu thuẫn đơn thuần, những chủ đề "tròn vo", "dĩ hòa vi quý" hay luôn tìm về với các tích dân gian, các câu chuyện giai thoại, truyền thuyết để tránh những đề tài được cho là “nhạy cảm”, dễ “động chạm”. Không chỉ bó gọn trong giới hạn an toàn, một số nhà hát đã theo cơ chế thị trường mà cho ra những tác phẩm sân khấu mang tính chất hài kịch “nhạt” để phục vụ số đông thị hiếu giải trí của khán giả.

Để chấm dứt tình trạng đề tài thiếu khả năng phản ánh những vấn đề lớn của đời sống như hiện nay, sân khấu Thủ đô rất cần những nhà hát, những đạo diễn, những kịch bản có cái nhìn mới, chiều sâu mới, tạo nên những liên tưởng mới, gắn liền và mang hơi thở đương đại, nhằm nói lên hiện thực của xã hội hiện đại thế kỷ 21. Có như vậy, khán giả mới được thỏa mãn sự quan tâm của mình về xã hội, được bù đắp những mong chờ về tiếng nói trong nhân dân và được thay mặt nói lên những nguyện vọng.

Bên cạnh sự thiếu hụt về khả năng phản ánh đời sống, phần lớn những tác phẩm sân khấu của Thủ đô hiện nay chưa có được một kế hoạch quảng bá, truyền thông bài bản và xứng tầm. Cung cách truyền thông mà các nhà hát sử dụng hiện tại vẫn là tổ chức những đêm công diễn phát vé mời, mời những nhà báo hiểu biết (và không hiểu biết!) về lĩnh vực sân khấu đến xem rồi viết những mẩu tin như để “đáp lễ” tấm vé mời. Đây là cách truyền thông một chiều, hời hợt và cho thấy sự kém hiệu quả rõ rệt. Trong thời đại công nghệ số với những kênh truyền thông trực tiếp, hiệu quả như hiện nay, việc quảng bá cho một sản phẩm văn hóa đặc biệt như tác phẩm sân khấu không còn là điều quá khó khăn. Việc để trống hoặc không chăm chút những kênh truyền thông hiện đại như trang web riêng, mạng xã hội, phát thanh-truyền hình... cho thấy một thiếu sót rất lớn trong sự chuyển mình hội nhập của phần lớn các nhà hát.

TỐNG HOÀNG HÀ MY