Khi ông mở hòm đồ nghề, lấy thêm ra một nắm “sắt vụn”… rồi biểu diễn thuật thúc đồng, các bạn Nhật đã đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

Những tác phẩm thúc đồng của nghệ nhân Lê Văn Phú nhìn tĩnh mà động, trong âm có dương, trong dương có âm. Ông chỉ cho tôi tác phẩm “Hứng dừa 3” (theo cách ông đặt tên) rồi hỏi: “Cháu thấy sao?”. “Nhìn các nhân vật như múa với dừa vậy, chứ không phải đánh ghen”. Lão nghệ nhân cười khoái chí, bảo: “Mỗi người một cảm nhận, nhưng tác phẩm của tôi khi ra thị trường, đố anh nào làm nhái được”.

leftcenterrightdel

Nghệ nhân Lê Văn Phú chỉ mong có người tài giỏi nối nghiệp.

Tranh thúc đồng của nghệ nhân Lê Văn Phú, có thể nói, đã đạt đến độ giao thoa hoàn hảo giữa điêu khắc, hội họa, thúc đồng. Ngày trước, khi nghề làm bạc tạm bị dừng lại, cậu bé Lê Văn Phú theo học hội họa từ các thầy: Mạnh Quỳnh, Phạm Viết Song. Mỗi sản phẩm thúc đồng của ông, nói không quá lời, là một tác phẩm hội họa được thể hiện bằng đồng. Ở đó có đầy đủ thế giới nhân sinh quan, chân-thiện-mỹ. Tôi rất thích bức “Hổ” (được ông chế tác dựa theo nguyên mẫu tranh Hàng Trống) nên nằng nặc xin lão nghệ nhân để lại. Thấy vậy, nghệ nhân Lê Văn Phú hỏi: “Cháu thấy bức “Hổ” đẹp ở đâu?”. “Cháu thấy có sự uy nghi, đâu đó trong cái chính, cái thiện có xen lẫn cả cái tà, cái ác”. “Tôi rất quý bức “Hổ” này. Với tôi, cái đẹp của tác phẩm này là bằng 0”. “Sao ạ?”. “Để tôi giải thích: Thợ giỏi thua nghệ nhân ở chỗ làm gần đẹp rồi thì dừng. Hoặc khi đã làm đẹp rồi mà chính người thợ không biết đó là đẹp. Đã đẹp mà tiếp tục đụng tay ắt hỏng. Nghệ thuật là sự cân bằng. Muốn thúc ra một tác phẩm đẹp, phải biết được các thuộc tính của đồng, biết được nó cần bao nhiêu nhiệt, gõ búa thế nào thì không thủng và làm phải rất nhanh để đạt được sự phóng khoáng trong cái tĩnh tuyệt đối, thậm chí là “lên đồng” với từng động tác “múa búa” của mình”.

Thật sự phải có khiếu thẩm mỹ, tài hoa hội họa cũng như sự khéo tay khôn tả thì từ một miếng đồng vô tri vô giác, qua nhiệt, qua lửa, qua những lần gõ búa mạnh mà tinh tế, nhẹ mà đượm hồn dân tộc, nghệ nhân Lê Văn Phú mới có thể làm ra những tác phẩm nghệ thuật thúc đồng sống động đến vậy. Điều khiến tôi ấn tượng là xưởng của nghệ nhân Lê Văn Phú chỉ có diện tích chừng 3m2, trong căn nhà ở mặt phố Đông Tác (quận Đống Đa, TP Hà Nội). Căn nhà hiếm khi mở cửa. Tôi không rõ vì sao chủ nhân của ngôi nhà lại sống khép kín đến vậy. Có thể ông thích sự cô độc, hoặc là muốn tĩnh tâm, tập trung cao độ cho những đứa con tinh thần. Mỗi lần thúc đồng, ông Phú lại nghe nhạc. Ông bảo “âm nhạc kết hợp với hội họa đã giúp tôi cho ra đời những tác phẩm để đời”. Tôi bán tin bán nghi lời ông nói bởi ở tầm như ông, nói gì về nghề… cũng chuẩn. Nhưng có một điều chắc chắn, đó là nghệ nhân Lê Văn Phú đã dành cả đời mình cho nghệ thuật thúc đồng, đưa nghề thúc đồng đến đỉnh cao của nghệ thuật.

Vì nghệ nhân Lê Văn Phú làm thủ công nên mỗi tác phẩm ra đời lại mang một phong cách mới thoát ra ngoài bản (vẽ) gốc. Điều "độc nhất vô nhị" chính là ở cách thúc “hàm ếch”-tạo độ nổi như đắp vào mặt phẳng-chứ không mấy ai nghĩ là được thúc từ mặt sau lên.

Nghe lão nghệ nhân kể chuyện, tôi biết ông đau nhất là khi bố mất, anh chị em trong nhà chăm chăm tính chuyện chia tài sản. Lúc đó ông không nói gì, chỉ xin được giữ bộ đồ nghề của bố. Trước khi bố ông mất, cụ suy tư, dằn vặt vì không có người nối nghiệp. Một bữa, thấy con trai Lê Văn Phú cất giữ cẩn thận mấy mẩu họa tiết nhỏ về cua, chim, hoa lá, tiều phu... ông cụ thân sinh hỏi: “Chính tay con làm ra những mẫu họa tiết này?”. “Thưa bố, vâng ạ”. Người bố không nói gì, xoa đầu con, cười mãn nguyện.

Bài và ảnh: MINH MINH