Đương thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người lãnh đạo có tầm nhìn sâu sắc và mối quan hệ thân thiết với các văn nghệ sĩ trong và ngoài quân đội. Chính ngôi nhà số 4 của các nhà văn quân đội được Đại tướng chỉ đạo dành cho anh em. Năm 1957, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã chỉ đạo tách Phòng Văn nghệ quân đội thành ba tổ chức: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân; Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Phòng Văn hóa văn nghệ để đảm đương những việc cấp thiết trong toàn quân. Đại tướng còn chỉ đạo tạp chí phải phát hành rộng rãi ra ngoài và chủ trương đưa các nhà văn xuống đơn vị. Đội ngũ nhà văn quân đội đầu tiên đã trưởng thành, vừa bảo đảm làm tạp chí có những sáng tác kịp thời phục vụ bộ đội. Nhiều tác phẩm được Đại tướng trực tiếp khen tặng. Nối tiếp truyền thống tốt đẹp ấy, thủ trưởng Tổng cục Chính trị các thời kỳ luôn sâu sát, động viên, khích lệ, coi tạp chí như một kênh thông tin văn học chuẩn mực và tin cậy.

Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân luôn đón đợi các tác phẩm có chất lượng nghệ thuật của các văn nghệ sĩ, nhất là các văn nghệ sĩ quân đội. Trong hai cuộc kháng chiến, chính binh chủng đặc biệt-binh chủng văn nghệ sĩ đã vào chiến trường, và ở đó, những tác phẩm văn học nghệ thuật đầy sức sống đã động viên rất lớn cuộc chiến đấu của quân dân ta. Những ngày ác liệt ấy, văn công ra tận chiến hào biểu diễn phục vụ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tiếp đó, trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ, ca sĩ vào chiến trường trực tiếp vừa cầm súng vừa cầm bút, biểu diễn phục vụ bộ đội. Chính cội nguồn văn hóa dân tộc đã hun đúc nên những tác phẩm nghệ thuật kịp thời động viên cán bộ, chiến sĩ, góp phần làm nên chiến thắng.

leftcenterrightdel
Trung tướng Lê Hiền Vân, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thăm và làm việc tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tháng 2-2018. Ảnh: VNQĐ

Trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, tạp chí luôn có mặt ở các mặt trận. Ở đâu có bộ đội, ở đó có VNQĐ. Bộ đội đọc trên đường hành quân, bên cánh võng, trong căn hầm dã chiến hoặc giữa hai trận đánh. Nhiều cuốn do bom đạn đã sém lửa, đôi khi thấm máu, được bộ đội chuyền tay nhau đọc. Có thể thấy, những trang văn, trang thơ trên VNQĐ đã luôn đồng hành với nhân dân và chiến sĩ suốt chặng đường đánh giặc.

Các nhà văn quân đội có nhiều người được Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật như: Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Hồ Phương, Hữu Thỉnh, Xuân Thiều... và hàng chục nhà văn khác được Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hội Nhà văn, Giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng và các giải văn học quốc tế (Bông Sen, ASEAN, sông Mê Công). Những tên tuổi như: Thanh Tịnh, Vũ Cao, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Chí Trung, Dũng Hà, Mai Ngữ, Nhị Ca, Thu Bồn, Triệu Bôn, Lê Lựu, Hữu Thỉnh, Nguyễn Thị Như Trang, Vương Trọng, Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Hồng Diệu, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Khắc Trường, Khuất Quang Thụy, Ngô Thảo, Vương Trí Nhàn, Thanh Quế, Trung Trung Đỉnh… được bạn đọc cả nước nhắc nhớ. VNQĐ cũng là tạp chí văn chương đầu tiên, duy nhất hiện nay được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân và cũng là một trong không nhiều cơ quan báo chí có phóng viên được truy tặng danh hiệu Anh hùng, đó là nhà văn, liệt sĩ Nguyễn Thi.

Điều này càng khẳng định đội ngũ các nhà văn quân đội luôn bám sát cuộc sống chiến trường, trực tiếp chiến đấu và hy sinh cùng với nhân dân, chiến sĩ.

Thế hệ lãnh đạo của tạp chí đầu tiên phải kể đến Văn Phác, Thanh Tịnh. Thiếu tướng, nhà văn Văn Phác sau đó đảm đương cương vị Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, tiếp đó, ông làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa. Ở Văn Phác thể hiện rõ bản lĩnh chính trị và tầm nhìn văn hóa sâu rộng, những nền tảng, cốt cách chính yếu hình thành VNQĐ. Ông làm Chủ nhiệm tạp chí từ năm 1957 đến 1963.

Tổng biên tập Thanh Tịnh-một nhà thơ nổi tiếng từ thời tiền chiến cùng với Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… đồng thời là bạn học, đồng hương với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh-một người rất đặc biệt trong ứng xử với các văn nghệ sĩ quân đội trong những năm Thanh Tịnh làm tổng biên tập.

Tổng biên tập Vũ Cao đảm đương cương vị này từ năm 1970 đến 1977. Thời kỳ này các nhà văn vào chiến trường và từ chiến trường trở về rất đông. Tổng biên tập Dũng Hà cũng là một người đặc biệt. Từng là chiến sĩ Điện Biên còn mang trên mình vết đạn, khi đang là Chủ nhiệm Chính trị Bộ tư lệnh Đặc công, năm 1982, ông được cấp trên điều về làm tổng biên tập. Quen đánh giặc hơn viết văn, nhưng Dũng Hà đã trụ vững ở cương vị mới và có những đóng góp xứng đáng, tạo nên bề dày truyền thống của một địa chỉ văn chương lớn. Những tác phẩm: “Cây số 42”; “Sao Mai”; “Mảnh đất yêu thương”; “Đường dài” và đặc biệt là “Sông cạn” đã đặt ông đúng vị trí văn học của mình.

Tiếp đó là các Tổng biên tập: Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bảo, Ngô Vĩnh Bình và hiện nay là nhà văn Nguyễn Bình Phương. Mỗi người mỗi vẻ, các tổng biên tập dù luôn khác nhau từ cá tính tới sáng tác nhưng ai cũng có những đóng góp xứng đáng. Họ đều là một phần văn học ở ngôi nhà đặc biệt này.

leftcenterrightdel
Các nhà văn quân đội tham gia trại sáng tác do Tổng cục Chính trị mở năm 1976. Ảnh tư liệu

VNQĐ có bốn nhà văn được phong quân hàm cấp tướng. Đó là các nhà văn: Văn Phác, Dũng Hà, Hồ Phương và Nguyễn Chí Trung. Đây cũng là điều đặc biệt. Không ai sinh ra đã mặc định viết văn mang quân hàm tướng. Chính cuộc chiến đấu vĩ đại vì Tổ quốc, vì nhân dân đã sinh ra nhà văn và vị tướng. Nhà văn và vị tướng trước hết thuộc về nhân dân và chiến sĩ.

Một điều đặc biệt làm nên văn hiệu VNQĐ chính là đội ngũ cộng tác viên trong suốt 61 năm. Hình thành và quyết định chất lượng một tác phẩm văn chương là đơn độc cá nhân sáng tạo nên, nhưng khẳng định một văn hiệu lại do các thế hệ cộng tác viên góp phần quyết định. Có nhiều độc giả cứ tưởng họ ở VNQĐ, như các tác giả Phạm Tiến Duật, Đỗ Chu, Xuân Quỳnh... Như thế cũng chẳng sai vì các anh chị luôn coi VNQĐ chính là ngôi nhà văn chương của mình. Đọng lại là những tác phẩm văn học. Nhà thơ Xuân Quỳnh từng xin đầu quân cho VNQĐ. Nhà văn Đỗ Chu coi mình như thành viên. Nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng vậy. Chính điều đó đã làm VNQĐ thêm “thiêng”.

Cuộc sống sôi động, đa chiều của nhân dân và đất nước ngấm vào từng trang văn để từ từng trang văn ấy lại tỏa ra cuộc đời dài rộng. Các tiểu thuyết, trường ca, truyện ngắn, bút ký, thơ, nhạc ùa đến với nhân dân và chiến sĩ. Đội ngũ các nhà văn quân đội nối tiếp nhau thực hiện sứ mệnh văn chương. Ở những điểm nóng nhất của thời cuộc, đều thấy bóng dáng, trọng trách của các nhà văn quân đội. Nhiều tác phẩm văn học đã là những biểu tượng của một thời, của nhiều thời. Từ những “Núi đôi” của Vũ Cao; “Đồng chí” của Chính Hữu; “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu; “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi” của Nam Hà; “Việt Nam trên đường chúng ta đi” của Xuân Sách… và sau này là những “Thời xa vắng”, “Sóng ở đáy sông” của Lê Lựu; “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường; “Ăn mày dĩ vãng”, “Phố”, “Mưa đỏ” của Chu Lai; “Lạc rừng” của Trung Trung Đỉnh… và tiếp đó là thế hệ Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Mạnh Hùng, Uông Triều, Hoàng Đăng Khoa, Đoàn Minh Tâm… đảm đương vai trò tiếp nối một cách xứng đáng.

VNQĐ luôn ý thức sâu sắc vai trò là nơi tập hợp đội ngũ các nhà văn quân đội, người sáng tác trong cả nước. Các cuộc thi văn chương của tạp chí luôn được đón nhận, chờ đợi, hy vọng và khẳng định những dấu mốc văn chương quan trọng. Từ cuộc thi, đội ngũ các nhà văn, đặc biệt là lớp nhà văn trẻ xuất hiện và được khẳng định. Nhiều tác phẩm gây tiếng vang và là những thương phẩm văn học đặc thù, truyền thống. Những thanh âm trong trẻo, hữu ích đến với bộ đội, đến với nhân dân. Các nhà văn quân đội không chỉ có mặt trên mỗi trang viết mà còn có mặt nơi bão lốc, cháy rừng, lũ quét. Các nhà văn quân đội đều nhiều lần đến Trường Sa, có người đi hàng tháng như Duy Khán, có người ở nhiều năm như Trần Đăng Khoa. Mùa giá rét, mùa sóng gió hay mùa biển lặng, các nhà văn đều đến nơi biên giới, hải đảo với tấm lòng của nhà văn-chiến sĩ. Hằng năm, các nhà văn quân đội đến Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ ăn cùng, ở cùng và lắng nghe nhịp đập của trái tim người chiến sĩ. Những tập ghi chép, bút ký, truyện ngắn mang đậm hơi thở người lính là món ăn tinh thần bổ ích của bộ đội ta. Và cũng chính người chiến sĩ đang ngày đêm miệt mài với từng nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo đã tiếp thêm sức mạnh, là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà văn.

Từ phác thảo đội ngũ các nhà văn quân đội đã thấy được chặng đường đã qua là chặng đường sức vóc, nhiều thành tựu. Chặng đường ấy là chặng đường trưởng thành của văn học Việt Nam hiện đại mà đội ngũ các nhà văn quân đội đã góp phần xứng đáng, tự hào và kiêu hãnh từ những tác phẩm đã được Tổ quốc và nhân dân ghi nhận. Trong công cuộc đổi mới hôm nay, đồng hành với người chiến sĩ và nhân dân, các nhà văn quân đội chắc chắn sẽ xứng đáng với những thế hệ đi trước.

Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI