Cuối năm ấy, sau nhiều lần gia đình tôi tới nhà H’Len thăm hỏi mới quyết định ngày tổ chức đám hỏi để tiến đến hôn nhân. Thật bất ngờ, cái ngày “đại đăng khoa” ấy gia đình H’Len bỗng dưng bày ra bàn một khoản tiền khá lớn, ước tính trị giá cả hai cây vàng. Già làng đứng lên tuyên bố:

- Theo phong tục của buôn làng mình, con gái cưới chồng về ở rể, số của này trả công cho cha mẹ chàng rể, nếu thấy ưng cái bụng thì gật đầu, thấy ít thì cứ đòi thêm, nói rõ ràng bao nhiêu nữa, để xem nhà gái có lo được không.

leftcenterrightdel
Minh họa: PHẠM HÀ

Ba tôi trước kia là bộ đội đã đóng quân ở nhiều vùng là người dân tộc thiểu số nên cũng hiểu nhiều phong tục của mỗi dân tộc, nên ông phát biểu:

- Thưa già làng, thưa bà con thân tộc, các con yêu nhau với mục đích thành vợ, thành chồng. Tục lệ của làng như vậy chúng tôi không có ý kiến gì thêm, có điều xin gửi lại số tiền này cho nhà gái để lo cho các cháu sau này, gia đình xin được phép không nhận.

Gia đình nhà gái và già làng bàn nhau bằng tiếng M’Nông nên tất cả chúng tôi không hiểu gì cả. Một lát sau già làng trịnh trọng tuyên bố:

- Được rồi, ta đồng ý, chủ nhà đồng ý và buôn làng cũng đồng ý. Tiền này giao cho ba mẹ của con H’Len mua đất, mua rẫy cho vợ chồng nó, khi nào muốn về buôn thì cất nhà ở.

Tôi cũng ngỡ ngàng, vì yêu nhau lâu rồi mà tôi vô tình không hỏi rõ về tập quán của người M’Nông. Thì ra con gái “bắt” chồng về nhà mình phải trả công nuôi dưỡng cho ba mẹ chồng để chồng đi ở rể, coi như tiền phụng dưỡng vậy.

Cuối năm đó, đám cưới của chúng tôi diễn ra đúng với nghi thức người M’Nông, ai cũng chúc mừng đủ mọi lời hay lẽ đẹp, nhưng đều kèm theo lời căn dặn “sang năm có con đấy nhé”. Do cả vợ chồng đều bận công tác nên chúng tôi thống nhất với nhau kế hoạch, khi nào tích trữ được số vốn để làm căn nhà mới có con.

Từ ngày cưới cho đến suốt hai năm, tháng nào vợ chồng tôi cũng tranh thủ về bên vợ một lần vào chiều thứ bảy, đến sáng thứ hai mới cùng trở lại cơ quan. Lần nào về lũ (buôn) làng cũng đến thăm hỏi, trò chuyện cho tới khuya. Bỗng nhiên vào một ngày nọ, sau bữa ăn tối, ba vợ tôi nói:

- Như vậy con H’Len cưới chồng đã tròn hai mùa rẫy, theo luật làng, nếu tròn hai mùa rẫy mà không có con thì thằng chồng bị “đui” rồi. Không có con nối dòng là buôn làng không đồng ý đâu. Phải bỏ nhau, đứa có vợ, đứa có chồng khác đấy.

Vợ chồng tôi hết sức giải thích bằng những từ ngữ dễ hiểu nhất, nhưng ba vợ vẫn lắc đầu:

- Mình biết, các con biết nhưng dân làng, già làng không biết. Phải đi nói với già làng để già nói cho lũ làng hiểu.

Ngay sáng hôm sau, tôi tìm đến gặp già làng trình bày lý do chưa có con chứ không phải “chồng đui”. Suy nghĩ một lúc già làng mới bảo:

- Được rồi, ta sẽ nói cho lũ làng hiểu, nhưng mày bị phạt làm một con heo, nhỏ thôi, bằng cái gốc cây kia là được (khoảng 30kg) cúng thần linh và mời cả buôn một bữa cơm dẻo, rượu cần đấy. Đây là phong tục không châm chước cho ai được đâu.

Cuối tháng, vợ chồng tôi và gia đình vợ làm bữa cơm “nộp phạt”. Trong bữa ăn có khá nhiều ý kiến của các chức sắc và các già trong buôn bảo rằng đúng một năm nữa vợ chồng tôi phải có con... Cuối bữa cơm, già làng đứng lên tuyên bố:

- Thôi, vợ chồng chúng nó đều là người của Nhà nước. Tôi là già làng đại diện cho lũ làng cho chúng nó thêm hai năm nữa là bốn năm, đúng thời hạn này không đẻ được thì hai đứa phải chịu phạt nữa...

Cả buôn hò reo vỗ tay hưởng ứng, còn vợ chồng tôi mặt đều đỏ như trái cà chua chín.

Truyện vui của PHẠM HOÀNG NINH