Tám Thảo-Tiểu thư vượt qua máy thử nói dối

Đến bây giờ, nghe lại chuyện Tám Thảo vượt qua máy nói dối, một trong những loại trang bị hiện đại và tinh vi bậc nhất của Mỹ sử dụng trong chiến tranh, người ta vẫn mười phần thán phục. Tám Thảo tên thật Nguyễn Thị Mỹ Nhung, là tiểu thư trong một gia đình buôn lụa nức tiếng từ Bắc Ninh vào miền Tây Nam Bộ. Khi thực dân Pháp núp bóng quân Anh, tái chiếm Nam Bộ tháng 9-1945, Mỹ Nhung đã bỏ học, trốn nhà theo cách mạng, làm giao liên tình báo với tên gọi Nguyễn Thị Yên Thảo (Tám Thảo). Hai năm đầu, cô bền bỉ với nhiệm vụ đưa đò cho cán bộ ra ngoài hoạt động. Để xây dựng một hình ảnh hoàn hảo trong mắt dân chơi Sài Gòn, Tám Thảo đã học nhảy đầm và tiếng Anh để giao tiếp với người nước ngoài.

leftcenterrightdel
Nữ tình báo Tám Thảo

Những năm 1967-1968, Mỹ đẩy mạnh chiến lược Chiến tranh cục bộ, liên tục tăng quân viễn chinh Mỹ và chư hầu vào Việt Nam. Khi đó, Tám Thảo đã xây dựng xong vỏ bọc tiểu thư bán vải nức tiếng xinh đẹp, giỏi tiếng Anh ở chợ Bến Thành nên được ông Tư Cang (Nguyễn Văn Tàu, Cụm trưởng Cụm Tình báo H.63) giao nhiệm vụ cài cắm vào văn phòng cố vấn Mỹ tại bộ tư lệnh hải quân ngụy. Nhiệm vụ của cô là lấy tài liệu tuyệt mật của tình báo Mỹ. Không chỉ đọc rồi ghi lại mà phải sao chép tài liệu nguyên bản của địch. Nhận nhiệm vụ khó khăn, Tám Thảo phải nhờ cậy một viên chức ngụy “chạy” cho suất phiên dịch trong bộ máy tay sai giúp việc tình báo Mỹ, với lý do để trau dồi vốn tiếng Anh. Tin Tám Thảo bỏ tiệm vải làm việc cho Mỹ trở thành chủ đề đàm tiếu, dè bỉu của dư luận khiến cô và gia đình không khỏi xót xa.

Tuy vậy, mỗi ngày đi vào “hang hùm” làm việc, Tám Thảo vẫn thể hiện sự bình tĩnh, gan dạ lạ thường. Một hôm, ông Tư Cang chở cô tới làm việc tại bộ tư lệnh hải quân ngụy, ngồi sau chiếc xe Honda màu đỏ, cô hồn nhiên nói: “Đời em nghĩ cũng sướng thật!”. Ông Tư Cang liền hỏi: “Sung sướng gì đâu?”. Cô cười khúc khích và nói: “Có ai được như em? Sáng, Thiếu tá tình báo Việt Cộng đưa đi làm bằng Honda, chiều thiếu tá tình báo Mỹ chở về bằng xe hơi”. Quả thật, trưa và chiều vào lúc tan tầm tên thiếu tá tình báo Mỹ làm việc tại bộ tư lệnh hải quân ngụy thường tự tay lái ô tô đưa Tám Thảo về nhà. Chiếc ô tô con thường đậu ở đầu hẻm 136 đường Gia Long (nay là 136 đường Lý Tự Trọng, quận 1, TP Hồ Chí Minh), thiếu tá Mỹ rất ga lăng, hắn luôn đi theo cô suốt con hẻm dài 100m vào tận nhà. Hắn cũng thường xuyên lưu lại nói chuyện với Tám Thảo tại phòng khách. Chính điều đó là vỏ bọc để Tám Thảo qua mặt bọn mật thám ngụy vốn vẫn theo dõi cô ngày đêm. Chúng không biết rằng, chiếc xe của tên thiếu tá tình báo Mỹ lại chở những tài liệu mật có giá trị từ bộ tư lệnh hải quân ngụy về nhà Tám Thảo, để ông Tư Cang đã đợi sẵn ở trên gác chụp lại nguyên bản, chuyển cho cơ quan của ta.

Tuy nhiên, vẫn có lần hai tên nhân viên chống gián điệp của Mỹ nghi ngờ, chúng yêu cầu Tám Thảo về phòng điều tra của chúng ở Chợ Lớn. Trước đó, Tám Thảo đã được ông Tư Cang thông tin, tình báo Mỹ mới đưa sang nước ta một số máy kiểm tra nói dối và sẽ sử dụng ở cơ quan hải quân. Một tên sĩ quan bước vào phòng nói với Tám Thảo: “Cô chỉ được nói tiếng Việt, không quá 3 từ”. Cô liếc qua bản danh sách có khoảng 20 câu hỏi. Cuộc khảo sát bắt đầu: “Cô người Bắc hay Nam?”. “Bắc”. “Anh cô tập kết ra Bắc phải không?”. “Phải”. “Một năm cô gửi mấy lá thư ra Bắc?”. Thoáng chút đắn đo, nếu nói không gửi hoặc gửi nhiều quá đều sẽ rất nguy hiểm, cô quyết định trả lời: “Hai” … Cứ thế, chúng hỏi cô khá nhiều với thái độ thoải mái dần, không quá căng thẳng, nghiêm túc như lúc đầu. Quá trình kiểm tra, chúng kết hợp quay phim. Đến quá trưa, cuộc kiểm tra kết thúc. Cô bước ra ngoài cửa, tên thiếu tá tình báo Mỹ vẫn đứng chờ, tỏ vẻ sốt ruột, hỏi: “Sao cô ở trong đó lâu quá vậy?”. Cô tỉnh bơ trả lời: “Anh hỏi sếp của anh ấy, làm sao tôi biết”. Hắn đưa cô lên xe chở về phòng làm việc. Sau cuộc tra hỏi đó, Tám Thảo, nữ thư ký xinh đẹp của thiếu tá cố vấn tình báo Mỹ được tin dùng hơn và cách mạng có được nhiều tài liệu mật của địch.

leftcenterrightdel
Bà Tám Thảo, ông Tư Cang (thứ hai, từ trái sang) và các đồng đội.

Hai Ánh-hai lần mang “hàng nóng” qua mặt địch

Những mẩu chuyện về huyền thoại tình báo Sài Gòn luôn có mặt bà Nguyễn Thị Ánh (Hai Ánh), người hai lần mang súng và mật lệnh vượt qua mặt các đồn bốt Mỹ-ngụy đưa cho ông Tư Cang. Nguyễn Thị Ánh quê ở xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi, là một giao thông viên mưu trí, dũng cảm. Trong Cụm Tình báo H.63, Hai Ánh có nhiệm vụ chuyển tài liệu từ Sài Gòn ra ấp chiến lược Phú Hòa Đông và chuyển các yêu cầu điều tra, chỉ thị của cấp trên vào cho các điệp viên trong Sài Gòn.

Lần thứ nhất, trong dịp Xuân Mậu Thân 1968, cấp trên giao cho Hai Ánh hai khẩu súng K.54 và 27 viên đạn mang từ Củ Chi chuyển vào cho Cụm trưởng Cụm Tình báo H.63 Tư Cang. Nhiệm vụ này tương đối khó khăn, nếu không may bị địch phát hiện thì dễ nguy hiểm đến tính mạng, có thể lộ bí mật của cả đường dây tình báo dày công xây dựng trong nhiều năm. Từ ngoại đô vào Sài Gòn luôn có lính Mỹ-ngụy lập chốt kiểm tra gắt gao. Sau một thời gian nghiên cứu địa hình và quy luật hoạt động của địch, Hai Ánh quyết định khéo léo khoét rỗng ruột một xấp bánh tráng, cho súng và đạn vào trong. Sáng Mồng Hai Tết, cô đi đến ngã tư Tân Quy, bị lính giặc chặn lại không cho đi. Chúng lấy lý do vì Sài Gòn đang có chiến sự. Sang ngày Mồng Ba, Hai Ánh tiếp tục đi, cũng bị lính Mỹ chặn lại. Tình hình gấp gáp, trong lòng cô như có lửa đốt vì lúc này ông Tư Cang cũng đang rất mong ngóng. Bỗng Hai Ánh phát hiện có một viên thiếu úy ngụy về quê ăn Tết, đang gấp rút trở về đơn vị ở Sài Gòn. Cô năn nỉ hắn ta cho đi cùng. Vậy là nhiệm vụ thành công trót lọt, đúng giờ hẹn theo quy ước, Hai Ánh đã giao “xấp bánh tráng” gồm súng và đạn cho Cụm trưởng Tư Cang tại cửa Tây chợ Sài Gòn (nay là chợ Bến Thành). Cách đó vài trăm mét, tiếng súng nổ tại mặt trận quân ta đang đánh vào Dinh Độc Lập của tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu.

Một lần khác, cấp trên giao cho Ánh một mệnh lệnh viết tay mang vào Sài Gòn trao cho ông Tư Cang. Tờ mệnh lệnh được vo tròn lại nhỏ hơn hai đầu ngón tay út và được bọc kín trong giấy ni lông. Đến Hóc Môn, cô đụng phải một trạm kiểm soát đột xuất của giặc. Chúng lần cả vào lai áo, lai quần của cô. Thấy nguy hiểm, thừa lúc giặc sơ hở, cô nhanh chóng cho “món hàng” rơi xuống đất rồi cúi xuống lượm đưa vào miệng nuốt. Tên lính sừng sộ hỏi: “Gì đó?”. Cô đưa tay xuống phủi bàn chân và nói: “Kiến lửa cắn đau quá”.

Qua trạm xét an toàn, nhưng “món hàng” đã nằm trong bụng không biết lấy gì để giao lại cho cụm trưởng? Nghĩ mãi, Hai Ánh chợt lóe lên một sáng kiến. Đến ngã tư, cô tạt vào quán bên đường mua một trái dừa to, uống cho phình bụng ra, vừa uống vừa thò ngón tay móc cổ họng. Một trái chưa được, cô uống thêm trái nữa. Cuối cùng viên ni lông tròn bằng ngón tay út phải văng ra. Cô mừng quá, lượm lên lau sạch rồi đi đến chỗ hẹn giao cho cụm trưởng...

Trong một lần vào TP Hồ Chí Minh công tác, chúng tôi đến thăm Đại tá Nguyễn Văn Tàu (tức Tư Cang), nghe ông tâm sự về những nữ cán bộ trong Cụm Tình báo H.63 do ông trực tiếp phụ trách. Cụm Tình báo H.63 có 16 nữ cán bộ, trong đó có 9 đảng viên. Điều đáng mừng nhất là từ ngày thành lập cụm năm 1961 cho đến ngày kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước năm 1975, từ điệp viên cho đến giao thông viên mật của cụm đều hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, thu thập được nhiều tài liệu tuyệt mật của địch, góp phần trực tiếp vào chiến thắng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Nói đến đây, giọng ông Tư Cang như chùng xuống, bùi ngùi xúc động. Để được như vậy, ngoài việc cán bộ chấp hành tốt nguyên tắc bí mật, ngăn cách thì còn cả một câu chuyện dài những hy sinh không diễn tả hết bằng lời. Trong đó, có bà Tám Thảo, bà Nguyễn Thị Ánh.

Thời gian đã dịch chuyển, đất nước đã đổi mới, ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn và những đóng góp của các cán bộ nữ Cụm Tình báo H.63 vẫn vẹn nguyên giá trị. Những câu chuyện huyền thoại về các bà, các cô sẽ còn được nhiều thế hệ sau truyền kể, trân trọng, gìn giữ như ngọn lửa thiêng tiếp nối tinh thần dũng cảm, kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm của người dân Việt Nam nói chung.

HÀ AN (tổng hợp)