Đây là sự ghi nhận một tư liệu lịch sử hiếm, quý nói về quan hệ ngoại giao giữa hai nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong thế kỷ thứ 18, đóng góp vào việc duy trì nền hòa bình giữa các dân tộc trong khu vực và thế giới. “Hoàng hoa sứ trình đồ” cũng trở thành tư liệu thứ 7 của Việt Nam được công nhận ở lĩnh vực này.

“Hoàng hoa sứ trình đồ” (hay “Hành trình đi sứ Trung Quốc”) là cuốn sách miêu tả về một trong những hoạt động ngoại giao của Việt Nam và Trung Hoa trong thế kỷ 18, cụ thể là việc đi sứ của sứ bộ Việt Nam sang Trung Hoa, thể hiện việc giao lưu giữa các quốc gia ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Cuốn sách với phần chính là bản đồ ghi chép bằng nhiều hình ảnh, thông tin phong phú, quý hiếm về hành trình đi sứ của Sứ bộ Đại Việt thế kỷ 18 do Thám hoa Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) biên tập, hiệu đính và chú thích trong các năm 1765-1768 từ các tài liệu của nhiều thế hệ đi sứ trước, đồng thời bổ sung các chi tiết liên quan đến chuyến đi năm 1766-1767 do ông làm Chánh sứ. Cuốn sách có chiều dài 30cm, rộng 20cm, dày 2cm, được in bằng bản mộc trên giấy dó.

leftcenterrightdel

Một trang trong “Hoàng hoa sứ trình đồ”. Ảnh do UNESCO Việt Nam cung cấp

Theo ông Mai Phan Dũng, Phó tổng thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, “Hoàng hoa sứ trình đồ” thuộc về dòng họ Nguyễn Huy (ở xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), được sao chép lại vào năm 1887 từ bản gốc của Thám hoa Nguyễn Huy Oánh. “Hoàng hoa sứ trình đồ” được vẽ bằng 3 loại màu với nội dung chính là: Bản đồ về hành trình đi sứ từ biên giới giữa Việt-Trung qua các châu, phủ, huyện, dịch trạm tới điểm cuối là huyện Tân Thành, Bắc Kinh; ghi chú rõ ràng về quá trình đi sứ: Thời gian và địa điểm qua các nơi dừng nghỉ theo lộ trình thủy bộ chiều đi và chiều về; ngày lưu trú và các hoạt động của đoàn sứ bộ; chiều dài của mỗi dịch trạm, chiều dài toàn bộ đường thủy bộ đi sứ; cấu trúc, thời gian xây các cửa cung của Yên Kinh; các ghi chép tỉ mỉ về địa hình sông núi, phong cảnh, con người và nghi lễ ngoại giao khi qua các địa phương của Trung Quốc và Việt Nam.

Dù đã được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu thế giới nhưng đến nay nhiều thông tin liên quan đến tình hình văn bản của “Hoàng hoa sứ trình đồ” vẫn còn bỏ ngỏ, như: Vấn đề soạn giả, quá trình biên soạn, cách thức biên soạn, quá trình truyền bản, người sao chép… 3 công trình đáng kể nhất gồm: Bài viết được giới thiệu trong “Từ điển Văn hóa Việt Nam” (NXB Văn hóa, Hà Nội năm 1963), công trình khảo sát, đánh giá sơ bộ của Trần Hải Yến năm 1994 và bài viết “Vài nét về tình hình văn bản “Hoàng hoa sứ trình đồ bản” của Nguyễn Huy Oánh” của TS Nguyễn Thanh Tùng (Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1 năm 2011.

Theo đánh giá của TS Nguyễn Thanh Tùng, trong số những công trình “trứ thuật” của Nguyễn Huy Oánh còn để lại, “Hoàng hoa sứ trình đồ” là một công trình quan trọng. Có thể nói, đây là một trong những cuốn “sứ trình đồ” sớm nhất hiện còn, ghi chép, đồ họa lại một cách tường tận hành trình đi sứ Trung Quốc của các sứ bộ Đại Việt, mở đầu cho hàng loạt cuốn “sứ trình đồ” sau này như: “Hoàng hoa đồ phả” (Ngô Thì Nhậm, đời Tây Sơn), “Sứ trình quát yếu biên” (Lý Văn Phức, năm 1841), “Như Thanh đồ” (Phạm Văn Trữ, năm 1882), “Yên sứ trình đồ” (Nguyễn Khắc Hoạt, năm 1876)... Nguyễn Huy Oánh là người chép nối, hiệu chỉnh, chú thích và định bản cuối cùng cho “Hoàng hoa sứ trình đồ”. Đây là cách làm thường thấy ở Nguyễn Huy Oánh. Ông thường “toản yếu”, “toát yếu” hoặc biên tập, hiệu chú các sách đã có như trường hợp “Bắc dư tập lãm”, “Quốc sử toản yếu”, “Tứ thư toản yếu”, “Ngũ kinh toản yếu”, “Dược tính ca quát”, “Hoàng hoa toàn tập”…

Kết cấu của “Hoàng hoa sứ trình đồ” gồm 7 phần: 1. “Hoàng hoa dịch lộ đồ thuyết” (Thuyết minh về bản đồ đường đi và trạm dịch trên đường đi sứ) có chép (biên tập, hiệu chỉnh năm Ất Dậu-1765), chữ “hiệu tập” cho thấy công của Nguyễn Huy Oánh ở đây là “hiệu chỉnh”, “biên tập” tức căn cứ trên cái đã có mà gia công biên tập, sửa chữa; 2. Bài “Lưỡng kinh trình lộ ca” (Bài ca về hành trình từ Nam Kinh đến Bắc Kinh), phần này không thấy có ghi chú gì nhưng nhiều khả năng đây là phần Nguyễn Huy Oánh soạn vì phong cách giống với “Phụng sứ Yên đài tổng ca” của ông; 3. Bài “Sứ trình bị khảo” (Khảo luận đầy đủ về hành trình đi sứ), phần này cũng không thấy có ghi chú gì. Nhiều khả năng, đây là phần do Nguyễn Huy Oánh soạn, cũng như phần trên; 4. Bản “Quốc tự thần kinh tiến hành lục lộ’’ (Đường bộ từ kinh đô lên đường), phần này cũng không thấy có ghi chú gì. Nhiều khả năng, đây là phần do Nguyễn Huy Oánh soạn, cũng như phần trên. Như vậy, có thể thấy điểm chung là, những phần nào không có chú thích gì thì dường như người biên tập thời sau “mặc định” đó là của Nguyễn Huy Oánh (nên không cần phải chú thích, hoặc không tra ra thời gian cụ thể nên không chú thích); 5. Đồ bản: Từ trấn Nam Quan đến Bắc Kinh (có chú thích rõ ràng với hơn 100 trang trên tổng số 120 trang), theo như bài bạt đã đề cập thì phần này Nguyễn Huy Oánh kế thừa các sứ bộ trước đó, có gia công so sánh (với “Phụng sứ Yên đài tổng ca”), chú thích; 6. “Bắc sứ thủy lộ trình lý số” (Chiều dài đường thủy đi sứ phương Bắc), có ghi “nối tiếp, biên tập năm Ất Dậu”. Đây là phần do Nguyễn Huy Oánh có nhiều đóng góp, vì sách đã ghi rõ là ông “biên tập”, “nối tiếp”; 7. Kinh thành (Bắc Kinh), ghi chép về thành Bắc Kinh, Trung Quốc. Phần này hẳn do Nguyễn Huy Oánh soạn, vì khá giống với ghi chép trong “Phụng sứ Yên đài tổng ca”. Nhưng trong phần này lại có những câu như: “Hồi đầu triều dựng cung điện” hay cách chú dẫn: “Thịnh kinh” cho phép ta nghĩ đến việc soạn giả đã chép, biên tập phần này ở đâu đó trong sách Trung Hoa. Các sách Trung Hoa có thể là: “Đại Thanh nhất thống chí”, “Danh thắng toàn chí”…

Như vậy, “Hoàng hoa sứ trình đồ” là công trình tập thể, trải qua nhiều thế hệ đi sứ, mà Nguyễn Huy Oánh là người có công định bản, biên tập, hiệu đính, chú thích. Sách được làm ra nhằm cung cấp tư liệu, hướng dẫn tiện lợi cho bản thân sứ bộ Nguyễn Huy Oánh và các sứ bộ sau. Cuốn sách thể hiện tài năng của Thám hoa Nguyễn Huy Oánh trên tất cả các lĩnh vực lịch sử, địa lý, chính trị, ngoại giao và thơ ca. Trong đó, phần “Lưỡng kinh trình lộ ca” tuy không phải là phần chính của sách nhưng lại đậm dấu ấn cá nhân của tác giả nhất. Phần này gồm 26 câu thơ thất ngôn chữ Hán, viết khái quát về chặng mà sứ bộ đã đi qua. “Lưỡng kinh trình lộ ca” thể hiện nhãn quan chính trị, tài năng thơ ca, sự tinh tế, nhạy bén trong cảm nhận về thiên nhiên, con người và thời cuộc của tác giả.

Nguyễn Huy Oánh (1713-1789), húy là Xuân, tự là Kính Hoa, hiệu là Thạc Đỉnh, Lựu Trai, biệt hiệu là Thiên Nam cư sĩ. Ông là người làng Trường Lưu, xã Lai Thạch, huyện La Sơn (nay là xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh), một làng quê nổi tiếng bởi Văn phái Hồng Sơn. Ngay từ nhỏ, ông đã bộc lộ tinh thần ham học hỏi. Đường học hành, thi cử của ông khá thuận lợi. Năm 1732, ông đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương tại Trường thi Nghệ An. Năm Mậu Thìn (1748), ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ (chỉ có một mình ông đỗ Đệ nhất giáp và được xếp ở hàng ba, tức Thám hoa). Sau khi thi đỗ, ông được bổ dụng làm Thị giảng trong phủ chúa Trịnh Doanh, kiêm chức Hàn lâm viện thị chế. Ông từng là thầy dạy của chúa Trịnh Sâm thuở thiếu thời. Năm 1750, ông làm Hiệp đồng Nghệ An, rồi Đông Các hiệu thư, Thượng bảo tự khanh. Năm 1757, ông được thăng làm Đông Các đại học sĩ; năm 1759 làm Tri binh phiên, Nội giảng, Tư nghiệp (hiệu phó) Quốc Tử Giám. Năm 1761, ông được ban tam phẩm để tiếp sứ nhà Thanh (Trung Quốc); năm 1765 làm Chánh sứ đi sứ Trung Quốc. Năm 1768, ông được thăng làm Hữu thị lang bộ Công; năm 1782 là Thượng thư bộ Công. Mặc dù ở đỉnh cao danh vọng nhưng năm 1783, ông đã viết bài “Từ Tham tụng khải” xin được từ quyền Tham tụng (là quyền điều hành chính sự chứ không phải chức quan; có thời gọi là Tể tướng, chức quan coi việc quân dân). Về quê, ông lập ra Thư viện Phúc Giang và mở trường tư.

Hơn 200 bản khắc gỗ, tất cả sách vở do ông tổ chức in ấn đều phục vụ cho việc học tập; ngoài ra còn hàng chục nghìn trang chữ Hán Nôm làm tài liệu tham khảo cho học trò và các văn nhân bạn hữu. Trong số hàng trăm học trò của ông từ Bắc đến Nam về thụ giáo, đã có nhiều người đỗ tiến sĩ, cử nhân, tú tài. Ghi nhận tài năng, tâm huyết của Nguyễn Huy Oánh với sự nghiệp giáo dục nước nhà, triều đình đã phong cho ông là Uyên phổ hoằng dụ đại vương và sắc phong có ghi trang trọng: “Nối nguồn thơm từ Khổng Tử; rạng dòng tốt bởi núi Ni; lấy văn trồng người mở kế trăm năm”. Năm 1824, triều Nguyễn đã truy phong cho ông, ghi nhận “Phúc Giang thư viện uyên bác chi thần”. Như vậy, Thư viện Phúc Giang là thư viện duy nhất trong cả nước có thờ thần (vị thần chủ về học vấn, cụ thể là Nguyễn Huy Oánh). Đó là sự ghi nhận và đánh giá rất cao, hiếm có.

Nguyễn Huy Oánh để lại 40 tập sách về văn học, lịch sử, địa lý, y học… nổi bật là các tập: “Phụng sứ yên kinh tổng ca”, “Tiêu tương bát vịnh”; “Thạc Đình di cảo”, “Quốc sử toản yếu”, “Bắc dư tập lãm”, “Sơ học chỉ nam”, “Tính lý toản yếu”, “Dược tính ca quát”,  “Huấn nữ tử ca”… đều là các tác phẩm có giá trị truyền đời.

Nguyễn Huy Oánh từng tổng kết cái chí của mình khi làm quan: “Việc văn mài giũa, cùng việc võ luyện đủ; chẳng phải để mà chú tâm mưu đồ phú quý… Chỉ đeo đuổi một niềm ái quốc trung quân; đâu dám mưu cầu điền địa cửa nhà”. Ông đề cao nhất việc đào tạo, giáo dục; coi trọng chất lượng quan lại vì chính họ sẽ làm nên chất lượng công việc do triều đình giao phó.

VŨ NGỌC