Vụ bắt giữ trên cánh đồng

Buổi sáng hôm ấy, lái xe Leonid Chugiakin đang lái chiếc Moskovich gần thị trấn Kosulino thì nghe thấy một tiếng động lớn, giống như tiếng máy bay phản lực tăng tốc nhưng to hơn nhiều. Bước ra khỏi xe, anh ta thấy một cột bụi ở xa xa, dường như có vật thể gì vừa đâm xuống đất. Trên trời, có đám khói vẫn lơ lửng và một chấm trắng đang từ từ rơi xuống. Thấy V.Surin, cũng là một lái xe quen biết đang đứng gần đó quan sát, L.Chugiakin liền bảo V.Surin ngồi vào xe rồi cả hai phóng đến chỗ chấm trắng đang từ từ hạ xuống.

leftcenterrightdel

Phi công Francis Gary Powers trong nhà tù Xô viết. Ảnh tư liệu

Đó là một chiếc dù to màu da cam và trắng với một phi công bên dưới đang từ từ bay qua đường dây điện cao thế rồi hạ xuống cánh đồng. Cả hai để xe cách chừng 50 thước rồi chạy vội tới nơi. Ở đó đã có hai người khác là A.Cheremisin, công nhân và P.Asabin, một thương binh. Khi tiếp đất, chiếc dù kéo lê người phi công trên mặt đất. P.Asabin, vốn trước đó có thời gian làm trong ngành hàng không, liền giúp người phi công hãm chiếc dù lại để khỏi bị kéo đi, rồi tháo chiếc dù ra khỏi người anh ta. Viên phi công mặc bộ đồ bay màu xám thép, đội mũ phi công màu trắng có con số 29 và đeo mặt nạ.

Khi giúp tháo găng tay, mũ và mặt nạ, một người trong nhóm hỏi bằng tiếng Nga: “Anh ổn chứ?”. Viên phi công không trả lời, có lẽ vẫn còn sốc sau cú tiếp đất. Một người khác hỏi tiếp: “Anh là người Bulgaria à?”. Viên phi công trả lời bằng một thứ tiếng gì đó mà cả 4 người đều không hiểu. Lúc này, những công dân Xô viết đã xác định chắc chắn viên phi công đứng trước họ là một người nước ngoài và trở nên cảnh giác hơn. Thấy F.Powers đeo khẩu súng hãm thanh trong cái bao da màu vàng ở thắt lưng, A.Cheremisin bèn tước lấy.

L.Chugiakin chạy lại ô tô nổ máy chuẩn bị, còn A.Cheremisin và P.Asabin kẹp hai tay F.Powers dẫn lại phía ô tô trong khi V.Surin thu dọn những đồ đạc của F.Powers. Đến nơi, thấy F.Powers có một con dao găm, P.Asabin cũng tịch thu luôn rồi lần lượt giơ một và hai ngón tay, ra hiệu hỏi F.Powers có một hay hai người? F.Powers giơ một ngón tay. Vậy là chỉ có một người. Tất cả vào trong ô tô, F.Powers ngồi ở ghế sau, những đồ bay, vật dụng của anh ta để trong khoang hàng. Trong số đó có một tấm vải, trên có một thông điệp ghi bằng 14 thứ tiếng. Bức thông điệp viết: “Tôi là người Mỹ, không nói được tiếng nước bạn. Tôi cần thức ăn, chỗ trú ẩn và giúp đỡ. Tôi sẽ không làm hại bạn. Tôi không có ý định độc ác đối với nhân dân nước bạn. Nếu giúp đỡ tôi, bạn sẽ được thưởng”.

Ô tô chuyển bánh, hướng về phía thị trấn Kosulino, nơi hai nhân viên thuộc Ủy ban An ninh quốc gia Liên Xô (KGB) đang chờ. Trên đường đi, F.Powers ra hiệu xin uống nước. Nhiều tiếng đồng hồ đã trôi qua kể từ khi rời khỏi sân bay ở Peshawar, anh ta chưa hề ăn uống gì. Ô tô dừng lại để những người áp tải lấy nước cho F.Powers uống. Họ còn đưa cả thuốc lá của mình cho anh ta hút.

Khi ô tô chuyển bánh, A.Cheremisin chăm chú xem xét kỹ khẩu súng hãm thanh mới tịch thu của F.Powers rồi dùng ngón tay vạch lên chỗ phủ bụi ở thành xe một chữ “USA”, ra ý hỏi.

F.Powers gật đầu. 

F.Powers được đưa về trụ sở chính quyền khu vực. Tại đó, một nhân viên an ninh bắt đầu hỏi F.Powers bằng tiếng Đức nhưng viên phi công lắc đầu, ra ý không hiểu gì. Các nhân viên khác bắt đầu cẩn thận lục soát những đồ vật của F.Powers, kiểm tra kỹ túi áo, quần lót nhưng không phát hiện ra chiếc kim tẩm độc giấu trong đồng xu. Một nữ y tá đến kiểm tra bắp chân phải của viên phi công bị trầy xước trong khi nhảy dù, bôi thuốc và băng bó lại. Những người có mặt gắng nói chuyện với F.Powers vài lần bằng tiếng Nga nhưng đều không có kết quả bởi viên phi công không hiểu một chút gì.

Sau chừng hai giờ đồng hồ, F.Powers được đưa lên một chiếc xe quân sự và đưa về thành phố gần nhất là Sverdlovsk.

Ngay buổi chiều 1-5, một chiếc máy bay Tupolev đã hạ cánh xuống Sverdlovsk, chở theo một nhóm sĩ quan không quân Liên Xô cùng các nhân viên KGB. Một số ở lại để xem xét những mảnh vỡ của chiếc U-2 bị bắn rơi, thu thập các bằng chứng phục vụ cho cuộc điều tra. Một số khác ngay lập tức dẫn giải F.Powers quay về Moscow. Về tới Moscow, F.Powers được đưa thẳng về nhà tù Lyubianka.

leftcenterrightdel
Nhà lãnh đạo Xô viết Khrushchev tổ chức họp báo trước 2.000 phóng viên tố cáo Mỹ cho máy bay U-2 do thám Liên Xô

Câu chuyện bình phong

Đầu giờ chiều 1-5-1960, theo giờ Washington, một cuộc họp khẩn trương được tổ chức tại tòa nhà nằm trong khu trung tâm nhộn nhịp ở thủ đô Washington.

Cuộc họp bí mật này tập trung vào việc xây dựng câu chuyện bình phong sao cho nó đáng tin đối với cộng đồng quốc tế. Câu chuyện bình phong do CIA chuẩn bị là chiếc máy bay xuất phát từ Thổ Nhĩ Kỳ trong một sứ mệnh đo đạc thời tiết đã không may bay lạc sang Pakistan mà không được phép sau khi phi công báo về là có trục trặc trong động cơ.

Nhưng đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ cực lực phản đối, yêu cầu phải loại bỏ yếu tố “Pakistan” trong câu chuyện bình phong về chiếc U-2 bị mất tích. Vấn đề chính nằm ở vị trí địa lý của Pakistan. Nước này nằm ngay trên hành lang giữa Liên Xô với Trung Quốc và việc đưa quốc gia này vào câu chuyện vỏ bọc sẽ gây ra những rắc rối lớn cả về chính trị lẫn ngoại giao.

Một khi đã loại bỏ yếu tố “Pakistan” ra khỏi câu chuyện thì lại phải xây dựng một “kế hoạch bay” hoàn toàn mới cho chiếc U-2. Tất cả đều hiểu rõ là các thông số về trần bay, tầm xa cũng như khả năng mang nhiên liệu của chiếc U-2 là những số liệu tuyệt mật, không được phép để lộ ra.

Vậy là các chuyên gia kỹ thuật có mặt trong căn phòng bắt đầu xây dựng đường bay của chiếc U-2, không qua Pakistan, mà dọc theo biên giới Liên Xô nhưng hoàn toàn nằm trong không phận Thổ Nhĩ Kỳ.

Thông điệp cứng rắn của nhà lãnh đạo Xô viết

Trong vòng ba ngày sau khi chiếc U-2 bị mất tích, Tổng thống D.Eisenhower tưởng như mình đã có thể quên đi câu chuyện u ám liên quan đến chiếc máy bay do thám. Không hề có một động thái phản đối ngoại giao từ phía Bộ Ngoại giao Liên Xô, không có “TASS được quyền tuyên bố” và hầu như cũng chẳng có tờ báo Mỹ nào quan tâm đến bản thông cáo báo chí ngắn gọn được phát đi từ Adana, Thổ Nhĩ Kỳ về chiếc máy bay nghiên cứu thời tiết mất tích. Tờ Bưu điện Washington chỉ đưa nó vào mục tin vắn nhỏ xíu.

Ngày 5-5-1960, tức là 5 ngày sau khi chiếc U-2 bị bắn rơi, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Xô Llewellyn Thompson, được mời tới nghe bài phát biểu của nhà lãnh đạo N.Khrushchev tại phiên họp toàn thể Xô viết tối cao Liên Xô, diễn ra ở Phòng họp lớn trong điện Kremlin.

leftcenterrightdel
Tổng thống Mỹ Dwight Eisenhower (trái) gặp nhà lãnh đạo Xô viết Nikita Khrushchev trong chuyến thăm Mỹ tháng 9-1959

Bài phát biểu của N.Khrushchev hôm ấy kéo dài tới gần 4 tiếng đồng hồ. Đến gần cuối giờ thứ ba của bài phát biểu, khi đề cập tới hội nghị thượng đỉnh giữa lãnh đạo 4 cường quốc sắp diễn ra tại Paris, nhà lãnh đạo Xô viết bất thần tung ra “quả bom”: “Sáng sớm ngày 1-5, vào lúc 5 giờ 36 phút theo giờ Moscow, một máy bay Mỹ đã vượt qua biên giới chúng ta và bay sâu vào lãnh thổ Liên Xô. Bộ Quốc phòng đã ngay lập tức thông báo cho Chính phủ về hành động xâm lược này. Chính phủ đã chỉ thị cho Bộ Quốc phòng: Kẻ xâm lược biết những gì sẽ chờ đợi hắn khi xâm phạm lãnh thổ một nước khác; nếu như không bị trừng phạt, hắn sẽ tiếp tục có những hành vi gây hấn mới. Do đó, mệnh lệnh đưa ra là phải bắn rơi chiếc máy bay. Mệnh lệnh này đã được thực hiện một cách đầy đủ: Chiếc máy bay đã bị bắn hạ. Qua xem xét, có thể thấy chiếc máy bay này thuộc về nước Mỹ, mặc dù bên ngoài máy bay không hề có dấu hiệu gì!”.

Để tránh khả năng có thể gây nên những hệ lụy trầm trọng khó có thể cứu vãn trong tương lai quan hệ giữa hai nước, trong tuyên bố của mình, N.Khrushchev cẩn thận kết tội “giới quân sự Mỹ” chứ không phải trực tiếp cá nhân Tổng thống D.Eisenhower. Cũng thận trọng không kém, N.Khrushchev không hề đề cập đến một chi tiết tối quan trọng khác, là viên phi công vẫn còn sống.

Cả khán phòng lớn trong điện Kremlin bất chợt bùng nổ. Các đại biểu hướng về chỗ ngồi của viên đại sứ đại diện cho chủ nghĩa đế quốc, tung ra những lời giận dữ: “Nhục nhã!”. Đại sứ L.Thompson cố gắng giữ vẻ mặt lạnh lùng nhưng trong thâm tâm, ông kinh ngạc trước cái cách mà nhà lãnh đạo Xô viết đã sử dụng để chuyển thông tin trực tiếp cho các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ.

Các bản tin về bài phát biểu của N.Khrushchev được dịch và nhanh chóng chuyển tới cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ tổ chức trong hầm ngầm ở bên ngoài Washington. Tất cả thành viên hội đồng đều nhất trí rằng cần phải bổ sung thêm những chi tiết mới cho câu chuyện bình phong, nhưng vẫn dựa trên một giả thiết căn bản là viên phi công đã chết.

Hôm sau, vẫn trong phiên họp tiếp theo của Xô viết tối cao Liên Xô ngày 7-5, nhà lãnh đạo Xô viết N.Khrushchev nói với các đại biểu ngồi kín hội trường phía dưới: “Các đồng chí thân mến! Tôi phải nói với các đồng chí một bí mật mà hai ngày trước đây chưa đề cập đến trong bài phát biểu của tôi. Đó là chúng ta đã có được những mảnh vỡ của chiếc máy bay và bắt giữ được viên phi công, vẫn còn sống!”.

N.Khrushchev không dừng lại ở đó. Ông lần lượt trưng ra các chứng cứ đã thu được cũng như các tài liệu trong các cuộc thẩm vấn F.Powers: Những bức không ảnh mà chiếc U-2 chụp trên lãnh thổ Liên Xô, khối thuốc nổ dự định để phá hủy chiếc máy bay, cái kim tẩm độc, khẩu súng ngắn hãm thanh, tên của viên phi công là Powers, chỉ huy của Powers là Đại tá Shelton, căn cứ xuất phát là từ Peshawar của Pakistan, cảnh cáo cả

Pakistan và Na Uy là họ “đang đùa với lửa” khi dung túng cho các hoạt động xâm nhập không phận Liên Xô... N.Khrushchev cũng đưa thông tin về 7.500 đồng tiền rouble của Nga cùng một số lượng lớn tiền khác của Pháp, Ý, Tây Đức… mà F.Powers mang theo. “Làm sao có thể tiêu những loại tiền đó trên thượng tầng khí quyển được?”-nhà lãnh đạo Xô viết châm biếm.

N.Khrushchev nhắc lại lời kết tội là A.Dulles và “giới quân sự Mỹ” phải chịu trách nhiệm về hành động này, tránh nhắc đến tên D.Eisenhower. Nước Mỹ đã gây hấn và sẽ phải trả giá-nhà lãnh đạo Xô viết kết luận.

(Còn nữa)                      

YÊN BA (tổng hợp)