Cụ Huỳnh Thúc Kháng còn có tên gọi là Huỳnh Hanh, hiệu Minh Viên, sinh năm 1876, người làng Thạch Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Tiên Phước, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, trong một gia đình nhà Nho. Cụ nổi tiếng là một nhà đại khoa trẻ tuổi, đỗ giải nguyên năm 1900, đỗ tiến sĩ năm 1904, nhưng không chọn đường làm quan mà kết giao với những trí thức danh tiếng, yêu nước đang tìm đường cứu nước, cứu dân như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp. Do tích cực hoạt động cứu nước, cụ bị thực dân Pháp bắt, đày ra Côn Đảo 13 năm (1908-1921). Ra tù, cụ vẫn không từ bỏ con đường hoạt động cứu nước. Năm 1927, cụ lập ra Báo Tiếng dân, báo này tồn tại đến năm 1943. Là nhà yêu nước, khảng khái, có tinh thần dân tộc rất cao, thực dân Pháp và tay sai của chúng nhiều lần tìm cách mua chuộc, dụ dỗ, muốn lợi dụng uy tín của cụ để mê hoặc dân ta nhưng cụ đều khước từ, cự tuyệt. Năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, chúng khẩn khoản mời cụ đứng ra lập Chính phủ thân Nhật. Cụ từ chối, giữ vững tấm lòng son yêu nước.

Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn Độc lập” khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Cụ Huỳnh vui sướng reo lên: “Sướng ơi là sướng, thoát thân nô lệ làm chủ nhân ông. Vui thật là vui, đổi quyền vua mà làm dân quốc mới. Quốc gia giải phóng thì độc lập ngày 2-9 rõ ràng là toàn dân Việt Nam chúng ta đấu tranh mà được”. Ngày 29-10-1945, cụ đứng ra tổ chức và chủ trì lễ tưởng niệm 5 năm Ngày cụ Phan Bội Châu tạ thế, cụ đã nói điều mình từng ấp ủ sâu thẳm trong tâm khảm về hai cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và đất nước hiện thời: “Cái hoài bão của hai cụ đến đây rõ là đã được thực hiện. Cụ Sào Nam thì dân tộc chủ nghĩa, cụ Tây Hồ thì dân chủ chủ nghĩa. Đời tôi đến đây thấy được cái kết quả mà bình sinh hai cụ mong ước như thế là được rồi”.

leftcenterrightdel
Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong lễ ra mắt Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ảnh tư liệu

Đầu năm 1946, khi cụ Huỳnh đang ở Huế, cụ nhận được lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ ra Hà Nội nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Nhưng vì chưa hiểu đầy đủ về cách mạng, lòng còn băn khoăn, nghĩ suy nên cụ chưa phúc đáp kịp thời. Biết được, Bác Hồ đã ủy nhiệm cho Bộ trưởng Bộ Nội vụ lâm thời lúc đó là Võ Nguyên Giáp đánh một bức điện tiếp theo vào Huế cho cụ. Trong bức điện có câu: “… Việc đại nghĩa xin cụ đừng bỏ qua”, cụ mới lên đường ra Hà Nội để tiếp xúc với Hồ Chí Minh xem sao đã. Trong hồi ký “Những năm tháng không thể nào quên”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể: “Tôi được biết cụ Huỳnh từ hồi còn làm Báo Tiếng dân ở Huế. Cụ là một nhà Nho có tinh thần yêu nước cao, có khí tiết nhưng chưa hoàn toàn tin tưởng ở đường lối cách mạng của Đảng ta. Khi chúng ta cử người tới mời, lúc đầu, cụ tỏ ra ngần ngại. Một phần cụ thấy mình tuổi đã quá cao. Một phần vì cụ chưa hiểu những lãnh đạo mới “thuộc lớp trẻ này ra sao”. Đến lúc nghe nói rõ Hồ Chủ tịch chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc, cụ mới quyết định ra Hà Nội. Cụ muốn biết nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc mà cụ đã từng nghe tiếng từ lâu, là người như thế nào”.

Sau những lần tiếp xúc, đàm đạo tâm đắc với Bác Hồ, cụ Huỳnh đã biết rõ Cụ Hồ là ai, lại thấy Cụ Hồ chân thành, đức độ, sống giản dị, có đường lối sáng suốt, cụ Huỳnh đã nói với một người bạn: “Dân ta có được Cụ Hồ quả là hồng phúc”. Cụ Huỳnh cũng đã nhận thấy tình thế phải củng cố vững chắc nền độc lập của đất nước vừa mới giành được và những trọng trách nặng nề trước lịch sử đang đè lên vai Chủ tịch Hồ Chí Minh, lúc đó cụ mới nhận chức Bộ trưởng để chung vai gánh vác việc nước. Báo Sự  thật số ra ngày 7-3-1946 đã tường thuật lễ ra mắt của Hội đồng Chính phủ thật xúc động: “Trong lễ ra mắt trước hàng vạn đồng bào ở Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội, hình ảnh Hồ Chủ tịch ôm chầm lấy cụ Huỳnh là hình ảnh của hai người bạn già tương ái”. Kể từ đó, cụ Huỳnh thực sự là người đồng sự, người bạn tri kỷ, chia sẻ, chung vai nhiệm vụ nặng nề đối với đất nước với Cụ Hồ. Cuối tháng 5-1946, Bác Hồ nhận lời đi thăm hữu nghị nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Bác Hồ đã tin tưởng giao cụ Huỳnh làm quyền Chủ tịch nước trong thời gian Bác đi vắng. Chính phủ tổ chức long trọng lễ tiễn Bác ở Sân bay Gia Lâm. Lúc sắp lên máy bay, Bác nắm chặt tay cụ Huỳnh và nói: Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở cụ cùng anh em giải quyết cho. Cụ Huỳnh băn khoăn hỏi: Ở nhà có sự gì thì giải quyết thế nào? Bác trả lời: “Dĩ bất biến ứng vạn biến” (Lấy cái không biến đổi để đối phó với sự biến đổi). Với phương châm mà Bác Hồ dặn, ở nhà, cụ Huỳnh đã nghiêm khắc trừng trị, dẹp loạn vụ Ôn Như Hầu của bọn Quốc dân đảng, giữ vững an ninh chính trị đất nước. Mọi việc làm của cụ Huỳnh trong thời gian Bác Hồ đi vắng hoàn toàn xứng đáng với sự tin cậy của Bác Hồ, của quốc dân.

Từ khi gặp Cụ Hồ, cộng tác với Cụ Hồ việc nước, việc dân, cụ Huỳnh đã giải thoát cho mình mọi bế tắc, hiểu và tin tưởng Cụ Hồ, tin tưởng tương lai tiền đồ của đất nước. Dù muộn, tuổi cao nhưng cụ đã đem tất cả tâm huyết, trí lực cống hiến cho đất nước và coi Cụ Hồ là người tri kỷ. Cụ Huỳnh đã có bài thơ ca ngợi tài đức, công lao to lớn của Cụ Hồ: Tung hoành bể Sở với sông Ngô/ Đảm lược ai hơn Chủ tịch Hồ/ Mưa nắng dãi dầu bao tuế nguyệt/ Nước non gây dựng một cơ đồ/ Sen kia chẳng ngại nơi bùn lấm/ Tùng nọ bao nài trận gió xô/ Khắp cả ba kỳ đều tín nhiệm/ Rộn ràng bốn biển tiếng tung hô. Và trong dịp sinh nhật 71 tuổi của mình, cụ Huỳnh đã làm một bài thơ khác nói về tình cảm thiêng liêng đối với Cụ Hồ. Đây cũng là bài thơ cuối cùng của cụ Huỳnh: Huỳnh Thúc Kháng tiếu kha kha!/ Tứ phương tam kỳ chi gia/ Hương, tộc, quốc? Hữu giả? Vô gia?/ Đắc nhất tri kỷ nhi dĩ lão hà? (Huỳnh Thúc Kháng cười ha ha!/ Bốn phương ba cõi là nhà/ Làng, họ, nước! Có à? Không à?/ Được người tri kỷ thôi xong đã già). Cũng từ ý tứ thơ chữ Hán này, cụ Huỳnh đã viết bài thơ chữ Việt: Nghĩ ta ta cũng nực cười,/ Nhà ta ba cõi, người người bốn phương/ Nghĩ đến nước, đến làng, đến xã,/ Có hay không? Không có? Có không?/ Bảy mươi đầu bạc như bông,/ Được người tri kỷ, thôi xong đã già.

Đầu năm 1947, cụ Huỳnh trên hai cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Liên Việt) đi kinh lý dài ngày, làm việc trực tiếp tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam. Khi cụ đang thị sát tình hình tại Quảng Ngãi thì đột ngột lâm bệnh nặng, biết mình khó qua khỏi, ngày 14-4-1947, cụ viết bức thư tâm huyết gửi Cụ Hồ: “Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. 40 năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước nhà đã được độc lập, chế độ dân chủ đã được thực hiện. Thế là tôi chết hả. Chỉ tiếc không được gặp lại cụ lần cuối cùng. Chúc cụ sống lâu để dìu dắt quốc dân trên đường vinh quang hạnh phúc. Chào quyết thắng”. Cụ Huỳnh tạ thế ngày 21-4-1947. Tin cụ Huỳnh tạ thế đến với Bác Hồ rất nhanh, Bác đau buồn lắm, Bác và Chính phủ quyết định quốc tang và ngày hôm đó, Bác viết bài thơ điếu bằng chữ Hán trong niềm tiếc thương vô hạn:

Ô hô!

Vân phong vân khí ám

Đà hải triều thanh bi

Tứ nguyệt lệ vân đố

Huỳnh Bộ trưởng an quy?

Nội vụ bộ kim nhật

Tài đức giả kỳ thùy?

Đồng bào nẫm dư triệu

Thống khấp lệ lâm ly.

(Dịch: Than ôi!/ Trời gió mây mù mịt/ Tiếng chiều biển Đà Nẵng bi ai/ Tháng tư mây lệ báo tin buồn/ Huỳnh Bộ trưởng sao đã ra đi?/ Ngày nay Bộ Nội vụ/ Người tài đức là ai/ Hơn ba mươi triệu đồng bào/ Đau xót lệ não nùng!)

Đã có bài thơ điếu chữ Hán nhưng dường như Bác vẫn chưa yên lòng, Bác đã dựa vào ý bài thơ chữ Hán viết bài thơ bằng chữ Việt:

Than ôi!

Bể Đà Nẵng chiều thảm

Đèo Hải Vân mây sầu

Tháng tư tin buồn đến

Huỳnh Bộ trưởng đi đâu?

Trông vào Bộ Nội vụ

Tài đức tiếc thương nhau!

Đồng bào ba chục triệu

Đau đớn lệ rơi châu!

Xúc động trào dâng, Bác viết bài thơ điếu cụ Huỳnh bằng chữ Hán, đúng rồi, cụ Huỳnh là một bậc túc nho kỳ tài, là tác giả có trong tập “Thi tù tùng thoại”; hơn nữa, Bác Hồ và cụ Huỳnh là những người bạn tri kỷ, tri ân của nhau, cụ Huỳnh từng thổ lộ tâm can Đắc nhất tri kỷ nhi dĩ lão hà (Được người tri kỷ thôi xong đã già). Nhưng Bác còn viết tiếp bài thơ bằng chữ Việt, phải chăng để nhiều người, để đồng bào cả nước cùng đồng cảm, cùng chia sẻ với Bác trước sự mất mát to lớn này.

Cả hai bài thơ điếu chữ Hán và chữ Việt đã bổ sung cho nhau, thể hiện sâu sắc sự đau buồn và thương tiếc cao độ đối với người quá cố, mà người ấy, vị chí sĩ ấy cả đời vì nước, vì dân:

- Huỳnh Bộ trưởng an quy?

- Huỳnh Bộ trưởng đi đâu?

Một sự thảng thốt. Một câu hỏi của nỗi đau. Phải đau buồn lắm, đau buồn đến cao độ mới có câu hỏi thảng thốt này. Cả hai bài điếu thật thống thiết Đau đớn lệ rơi châu.

Quả là mất mát này, đau đớn này, thương tiếc này không của riêng ai. Cụ Huỳnh an quy trong lúc đất nước đang cần đến cụ. Cụ ra đi để lại một khoảng trống, phải làm gì?

Vì đại nghĩa, vì lòng tôn kính cụ Huỳnh, trước anh linh cụ, Bác Hồ kêu gọi đồng bào cả nước không vì thương tiếc mà rầu rĩ, than vãn, bi lụy; thương tiếc cụ, tốt nhất, phải nhất là thể hiện cụ thể bằng cách đoàn kết chặt chẽ, càng hăng hái kháng chiến theo tấm gương dũng cảm, nối chí quật cường của cụ, giành độc lập, tự do cho dân tộc mà suốt cuộc đời cụ đã theo đuổi: “Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà trước đây cụ đã bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo. Mười mấy năm trường gian nan khổ cực nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi, cụ Huỳnh chẳng những không sờn, lại thêm kiên quyết. Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm siêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không tham giàu, không tham quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước độc lập” (Gửi đồng bào sau ngày cụ Huỳnh tạ thế).

Ngày nay, ai qua Quảng Ngãi cũng nhìn lên núi Thiên Ấn nơi đặt lăng mộ cụ Huỳnh tỏ lòng tôn kính cụ. Được biết sắp tới, tỉnh Quảng Ngãi sẽ xây dựng Lâm viên Thiên Ấn, vừa là khu sinh thái, vừa để đời con cháu ghi nhớ công đức cụ Huỳnh.

Nhà văn LÊ XUÂN ĐỨC