LTS: Tại Kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XIV, dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) được trình Quốc hội thông qua với những sửa đổi, bổ sung tương đối đồng bộ về kê khai tài sản, thu nhập; kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập và xử lý các hành vi kê khai tài sản thu nhập không trung thực, không kịp thời, đầy đủ của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập... Hy vọng luật này sau khi có hiệu lực thi hành sẽ khắc phục được những hạn chế của những quy định trước đây trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần xin giới thiệu bài viết của TS Nguyễn Văn Hiển, Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, về dự án luật này.

Việc kê khai trung thực, đầy đủ và kịp thời tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, cùng với việc kiểm soát chặt chẽ và xử lý nghiêm các hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, không đầy đủ, không kịp thời vừa là nội dung vừa là cơ sở để thực hiện tốt các nguyên tắc minh bạch tài sản và trách nhiệm giải trình trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Ở Việt Nam, việc kê khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn đã được quy định ngay trong Pháp lệnh chống tham nhũng năm 1998 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X ban hành. Điều 14 trong Pháp lệnh quy định: “Người có chức vụ, quyền hạn phải kê khai nhà, đất và các loại tài sản khác có giá trị lớn của mình. Người kê khai phải kê khai chính xác, trung thực và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai”. Sau khi có pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/1998/NĐ-CP hướng dẫn thi hành pháp lệnh, trong đó có nội dung về kê khai tài sản (các văn bản ở thời điểm này chưa đề cập đến vấn đề kê khai thu nhập mà chỉ quy định kê khai tài sản). Mục 4, Chương II của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành cũng quy định về minh bạch tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.

Tuy nhiên, thực tế việc kê khai tài sản, thu nhập và kiểm soát, xử lý các vi phạm trong việc kê khai tài sản còn nhiều hạn chế và chưa góp phần tích cực vào mục tiêu phòng, chống tham nhũng có hiệu quả và chưa đáp ứng sự kỳ vọng của nhân dân. Những cụm từ được nhắc đến nhiều là: “Hình thức”, “đối phó”, “kê nhưng không khai”, “lãng phí và tốn kém”... đã phần nào phản ánh những bất cập, hạn chế, yếu kém trong việc tổ chức kê khai tài sản, thu nhập thời gian qua ở nước ta.

Theo báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2017, số người đã kê khai tài sản, thu nhập năm 2017 là 1.113.422 người, đạt tỷ lệ 99,8% so với số người phải kê khai. Số bản kê khai đã công khai là 1.111.818 bản, đạt tỷ lệ 99,8% so với số bản kê khai. Năm 2017, số lượng bản kê khai là rất lớn, nhưng chỉ xác minh đối với 78 người/1.113.422 người đã kê khai (giảm 81,4% so với năm 2016), kết quả xác minh chỉ phát hiện 5 trường hợp vi phạm. Trong khi đó, theo phản ánh của báo chí, cử tri cho thấy còn có nhiều trường hợp kê khai không trung thực, không kê khai, nhất là nhiều người không kê khai khi được bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý theo quy định, nhưng không được kịp thời phát hiện, xử lý; việc giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm trong một số trường hợp còn chưa hợp lý, thậm chí phản cảm, gây bức xúc trong dư luận… Như vậy, số lượng kê khai không trung thực, không đúng chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp. Thực tế trên chỉ ra rằng, việc kê khai tài sản của những cán bộ, công chức thuộc diện kê khai tài sản, thu nhập thời gian qua mang lại hiệu quả không cao, thể hiện rõ việc kê khai vẫn mang nặng tính hình thức, làm tốn kém thời gian, công sức, tài sản, nguồn lực của Nhà nước, xã hội.

Khắc phục những hạn chế trên, trong dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng trình Quốc hội lần này đã có những sửa đổi, bổ sung tương đối đồng bộ về kê khai tài sản, thu nhập; kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập và xử lý các hành vi kê khai tài sản thu nhập không trung thực, không kịp thời, đầy đủ của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập... Theo đó, dự thảo luật xác định rõ nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (Điều 33). Người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập gồm có: Cán bộ, công chức; sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân (Điều 34); tài sản, thu nhập phải kê khai (Điều 35); phương thức, thời điểm phải kê khai (Điều 36)… Nhìn chung các quy định này tương đối hợp lý.

Về kiểm soát tài sản, thu nhập và xử lý hành vi vi phạm cũng được dự thảo luật quy định tương đối đầy đủ, toàn diện. Đáng lưu ý là trong dự thảo lần này, một trong những nội dung được các đại biểu Quốc hội và dư luận đặc biệt quan tâm chính là phương án xử lý tài sản thu nhập tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc. Dự thảo luật lần này đưa ra hai phương án xử lý tài sản. Đó là phương án xử lý qua tòa án và phương án thu thuế (Điều 52 dự thảo).

Đối với phương án thu thuế, dự thảo luật quy định: Trường hợp kết luận tài sản, thu nhập tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc và cơ quan có thẩm quyền cũng không chứng minh được tài sản, thu nhập này do vi phạm pháp luật mà có thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ban hành kết luận xác minh, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập chuyển vụ việc cho cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền yêu cầu thu thuế thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật về thuế.

Theo phương án này thì xử lý nhanh, kịp thời tài sản, thu nhập tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc bằng biện pháp thu thuế. Tuy vậy, phương án này có hạn chế là chưa thể hiện thái độ thật nghiêm khắc của Nhà nước trong xử lý tài sản, thu nhập có dấu hiệu không minh bạch trong phòng, chống tham nhũng, có thể dẫn đến việc trùng lặp trong thu thuế hoặc bỏ lọt hành vi phạm tội trốn thuế.

Ngoài ra, nếu áp dụng biện pháp thu thuế thì dễ tạo kẽ hở cho rửa tiền, hợp pháp hóa tài sản nếu năng lực của các cơ quan chức năng (cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập, cơ quan thuế) yếu kém. Đây cũng là điều mà người dân và dư luận chưa thực sự đồng tình.

Bên cạnh việc đưa ra phương án xử lý tài sản tăng thêm không giải trình nguồn gốc một cách hợp lý qua biện pháp thu thuế, dự thảo luật đưa ra phương án xử lý tài sản này qua con đường tố tụng-tòa án. Theo đó, việc xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc sẽ do tòa án xem xét, quyết định. Trong trường hợp kết luận tài sản, thu nhập tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ban hành kết luận xác minh, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập phải chuyển kết luận xác minh và các tài liệu có liên quan đến tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu xem xét, quyết định về tính hợp lý của việc giải trình và xử lý đối với tài sản, thu nhập này.

So với phương án thu thuế thì phương án này có nhiều yếu tố hợp lý hơn. Phương án này thể hiện được thái độ mạnh mẽ của Nhà nước đối với tài sản, thu nhập tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc; giải quyết được những vướng mắc trong kiểm soát tài sản, thu nhập của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng.

Việc giao cho tòa án xem xét, quyết định về tính hợp lý của việc giải trình tài sản cũng bảo đảm được tính khách quan, minh bạch và quyền lợi của các bên, đó là lợi ích của Nhà nước, của cá nhân và lợi ích của xã hội. Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền, liên quan đến tài sản là liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Do đó, việc kết luận, xử lý tài sản trong trường hợp này không bằng mệnh lệnh hành chính mà cần phải thông qua con đường tư pháp với thủ tục tố tụng phù hợp. Việc thu hồi tài sản trong trường hợp này phải do tòa án phán quyết.

Thực tế cho thấy, việc xử lý tài sản, thu nhập nêu trên bằng phương thức thu hồi cũng được nhiều nước trên thế giới đang áp dụng và phát huy hiệu quả tích cực trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Xử lý thông qua con đường tòa án sẽ tạo cơ hội để cá nhân có cơ hội giải trình, đưa ra bằng chứng, căn cứ để bảo vệ quyền lợi của mình về tài sản, thu nhập. Trong trường hợp không đưa ra được căn cứ lý lẽ giải trình hợp lý về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm thì việc thu hồi tài sản, thu nhập về cho Nhà nước là hợp lý.

Phương án này không mâu thuẫn với quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm chứng minh. Bởi, Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành đang quy định người có nghĩa vụ kê khai phải có trách nhiệm giải trình về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm và quy định này tiếp tục được kế thừa trong dự thảo luật. Mặt khác, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập vẫn phải có trách nhiệm chứng minh tính không hợp lý trong việc giải trình về nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm của người có nghĩa vụ kê khai.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến lo ngại về tính khả thi của quy định này khi mà trong xử lý vẫn vướng tâm lý nể nang, ngại va chạm. Đối tượng kiểm soát tài sản thu nhập là những người có chức vụ, quyền hạn, thậm chí là “cấp trên” của những người được giao nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập. Câu hỏi đặt ra là, liệu trong trường hợp này, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập có đưa ra tòa không? Đây là những vấn đề cần phải có tính toán hợp lý trong quá trình hướng dẫn và tổ chức thi hành pháp luật.

Do vậy, trong trường hợp phương án này được Quốc hội lựa chọn thì ngoài việc chúng ta phải xây dựng một thủ tục tố tụng riêng biệt cho loại vụ việc này (trong đó cần xác định rõ đó là tố tụng hành chính hay dân sự, thuộc thẩm quyền của tòa án cấp nào, cách thức, trình tự tố tụng ra sao, tranh tụng thế nào…) thì trong quá trình hướng dẫn thi hành pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật cần đặc biệt lưu ý đến các điều kiện bảo đảm, tăng cường năng lực, kỹ năng, bản lĩnh cho đội ngũ cán bộ là công tác chuyên trách... Ngoài ra, cần đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn về kiểm soát tài sản, thu nhập. Cùng với đó, người thực thi nhiệm vụ này cũng phải vượt lên những nể nang, va chạm để thực hiện tốt nhiệm vụ mà luật đã giao. Giao quyền đồng thời gắn liền với trách nhiệm, do đó cần có cơ chế xử lý trách nhiệm rõ ràng nếu như cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập không thực thi đúng nhiệm vụ và quyền hạn được giao. Nếu làm được như vậy, cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập mới hoạt động thực sự hiệu quả, tránh tình trạng xác minh mang tính hình thức như thời gian qua. Như vậy, với việc chuẩn bị tốt các điều kiện bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật thì khi được giao nhiệm vụ, khi được trao quyền năng nhất định cơ quan kiểm soát tài sản thu nhập sẽ thực hiện tốt chức năng của mình.

(*) Đầu đề của Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần

TS NGUYỄN VĂN HIỂN (Ủy viên Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội)