7 giờ sáng, ở thôn Nà Toong, xã Thanh Thủy, sương lạnh còn đang buông trên núi rừng, chị Nguyễn Thị Thu Hương (người dân tộc Tày) run rẩy vì rét ra bờ suối để tìm hiểu xem có sự cố gì mà “nhà máy thủy điện” nhỏ của gia đình mình lại không có điện. Hóa ra, đường dây điện bị đứt. “Chắc là do con chó, con thú gì đùa giỡn vướng chân thôi, việc này xảy ra thường xuyên mà!”, chị Hương vừa nói, vừa nối lại đường dây. “Giờ phải làm rồi, phải bật ti vi cho con nhỏ ngồi xem chứ không thì nó chẳng chịu ở yên”, chị nói tiếp.

Công trình thủy điện gia đình của chị Hương lắp đặt tốn gần chục triệu đồng. Cả thôn Nà Toong gần 19 hộ dân với hơn 100 nhân khẩu cũng có gần chục hộ thuộc diện có điều kiện cũng đều lắp đặt công trình này để sử dụng, nhưng cũng chỉ đủ điện năng để thắp sáng hoặc xem ti vi, hay cho các thiết bị điện có công suất nhỏ. Tuy nhiên, do tốc độ dòng chảy luôn thay đổi, cường độ điện cũng thay đổi liên tục, các đồ điện sinh hoạt tuổi thọ ngày càng thấp, cộng thêm chi phí bảo quản máy thủy điện cũng tốn kém nên có đường điện quốc gia luôn là mong mỏi của người dân nơi đây.

Thôn Nà Toong cách nhà máy thủy điện khoảng 3km theo đường xe chạy. Chúng tôi bất ngờ hơn là nằm ngay cạnh nhà máy thủy điện và cạnh thôn Giang Nam có điện thì thôn Nặm Ngặt cũng đang “khát” điện ròng rã ngày này qua tháng khác. Anh Bồn Văn Hòi, Phó chủ tịch UBND xã Thanh Thủy, nhà ở Nặm Ngặt, nói:

- Muốn có điện thì phải tự kéo thôi. Vừa rồi, tôi phải bỏ ra 21 triệu đồng để nhờ cơ quan điện lực kéo đường điện về nhà với khoảng cách 300m. Nhà càng ở xa thì chi phí càng nhiều. Thôn Nặm Ngặt có hơn 60 hộ dân với khoảng 500 nhân khẩu thì chỉ có gần 30 hộ là làm được công trình thủy điện nhỏ phục vụ nhu cầu tối thiểu trong sinh hoạt của gia đình.

Chị Nguyễn Thị Thu Hương, thôn Nà Toong (Thanh Thủy, Vị Xuyên, Hà Giang) thường xuyên phải sửa chữa “thủy điện gia đình”.

Hiện nay, ở xã Thanh Thủy còn 4/7 thôn, bao gồm: Nà Toong, Nặm Ngặt, Lùng Đoóc, Cốc Nghè là chưa có điện lưới quốc gia. Khi nhắc đến vấn đề điện, tất cả hộ dân đều bức xúc và sự bức xúc ngày càng tăng đối với các hộ dân khi hay tin Nhà máy Thủy điện Thanh Thủy đi vào hoạt động đã tranh thủ sắm trước ti vi, tủ lạnh… để đón dòng điện về.

Anh Đặng Văn Tẳng (dân tộc Dao) ở thôn Nà Toong, nhìn chiếc máy xay xát lúa đang “đắp chiếu”, than thở: “Không chỉ có gia đình tôi mua đồ trước đâu. Khi nhà nước xây cột điện, kéo đường dây xong là cả thôn Nà Toong rủ nhau đi mua đồ. Vậy mà mấy năm nay, cột điện đã xong, đường dây đã lắp mà chẳng thấy đóng điện cho dân dùng”.

Anh Đặng Văn Yên, Trưởng thôn Nà Toong cũng bức xúc cho biết: Đồng bào ý kiến mãi Nhà nước mới đầu tư cho đường điện vào tận từng nhà. Thế nhưng, chẳng hiểu vì sao đến giờ vẫn chưa thấy cơ quan chức năng đóng điện cho dân sử dụng. Chẳng biết phải đợi đến bao giờ đây? Kiến nghị lên thì bên điện lực đổ cho bên chủ đầu tư xây dựng hệ thống đường điện kém chất lượng, không đạt yêu cầu nên không đóng điện. Cứ tình hình này thì chắc đồng bào chả có cơ hội dùng điện lưới đâu.

Nói rồi, anh Yên đưa chúng tôi đi tham quan đường dây điện. Giữa cây cối núi rừng mênh mông, các cột điện làm bằng bê tông vững chãi xếp hàng theo con đường mòn quanh co đến từng hộ dân của thôn Nà Toong. 4 đường cáp điện được kéo thẳng tắp nối từ cột điện này sang cột điện khác qua các trụ sứ trắng, đến cột điện cuối cùng. Thế mà, ở cột điện đầu bản, các đường dây lẻ loi buông xuống quấn quanh thân cột nằm vương trên đống xà bần của một công trình dở dang. “Cái này bị lãng quên hơn 3 năm nay rồi. Năm nào đồng bào ở thôn cũng ý kiến mà cũng chả đâu vào đâu”, anh Yên nói.

Qua tìm hiểu của chúng tôi, ở một số thôn khác như thôn Nà Sát và thôn Giang Nam, người dân tuy có điện nhưng vẫn “khát” được sử dụng đúng điện lưới. Anh Vàng Văn Lưu, thôn Nà Sát, chia sẻ:

- Chỉ dùng điện chiếu sáng mà gia đình tôi còn mất cả trăm nghìn đồng mỗi tháng. Tiền điện đắt lắm! Không dám dùng.

Trò chuyện với anh Lưu, chúng tôi được biết thêm: Ngày trước, đường dây điện ở đây được xây dựng theo dự án quốc phòng do quân đội làm chủ đầu tư. Thế nhưng khi đóng điện cho dân sử dụng, cơ quan điện lực chỉ cho lắp công tơ tổng (các hộ sử dụng điện chung và chia tiền theo bình quân số hộ dân). Thêm vào đó, họ (cơ quan điện lực) còn nói đây không phải là công trình do ngành điện lực làm chủ đầu tư nên mọi hỏng hóc đường dây hay hao phí điện người dân sử dụng điện tự phải giải quyết. Vậy là, trong thôn phải thành lập một tổ giám sát nhà nào sử dụng nhiều điện, phải tự đi thu tiền điện và người dân phải chịu thêm phí tổn những khấu hao hữu hình và vô hình do phát sinh từ đường dây và hao phí điện… Gánh trăm thứ nên giá điện tăng phi mã. Hơn 1/3 số hộ dân trong thôn Nà Sát đang thuộc diện hộ gia đình nghèo và đặc biệt khó khăn. Theo báo cáo của địa phương, thu nhập bình quân theo đầu người của thôn Nà Sát chỉ đạt được gần 7 triệu đồng/năm. Cái ăn, cái uống hằng ngày đồng bào lo đã quá vất vả, nay gánh thêm chi phí điện cao thì “có điện cũng không dám sử dụng điện” là điều tất nhiên. Và việc được sử dụng điện đúng giá cũng là cơn “khát” lâu năm của người dân nơi đây.

Anh Bồn Văn Hòi tâm sự tiếp:

- Tháng 2 là đồng bào bắt đầu trồng lúa nước. Ở đây chủ yếu là trồng một vụ lúa. Lúc ấy rất cần điện để bơm nước vào ruộng. Thế nhưng, thời điểm đấy, các con suối, con sông ở xã Thanh Thủy vào mùa cạn nên không có nước để chạy thủy điện gia đình. Đồng bào nhân dân xã biên giới Thanh Thủy chúng tôi rất mong sự quan tâm của các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp sớm có biện pháp để giúp đồng bào và nhân dân có điện để dùng.

Một mùa xuân nữa đang tới gần, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang thực hiện nhiều chương trình gửi tấm lòng vàng xây mùa xuân ấm cho các gia đình chính sách, hộ đồng bào nghèo. Chúng tôi cũng hy vọng, mùa xuân sẽ đem tin vui đến, sẽ đưa điện lưới quốc gia để “giải khát” ước mơ điện của đồng bào xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

Bài và ảnh: VIỆT HÀ