Đi theo đội tàu Phụng Hiệp (một trong những đội tàu đánh bắt cá lớn và hiện đại nhất ở Kiên Giang), tôi đặt chân đến Thổ Châu vào một sáng mùa hè. Từ xa đập vào mắt tôi là màu xanh thân thương nơi cực Tây Nam của Tổ quốc. Đón chúng tôi-những người khách phương xa lần đầu tiên đặt chân đến đảo là những ánh mắt nhí nhảnh của đám con trẻ. Đang dịp hè nên Huỳnh Lê Hoàng Châu (học sinh Trường THCS Thổ Châu) cùng chúng bạn tranh thủ bắt ốc phụ giúp ba mẹ kiếm tiền. Bọn trẻ như rái cá, ngụp lặn một hồi là thu về một rổ ốc tương đối. Mấy bà mấy cô bán bún mắm, bún cá ở gần chân cầu cảng hỏi mua nhưng đám trẻ con cười toe toét rồi xách chiến lợi phẩm về nhà.

Trong cái nắng, cái gió nơi đảo xa này, tự nhiên ai nấy đều thèm một tô bún cá. Chao ôi, nước dùng ngon ngọt thôi rồi, ăn miếng cá nào đã đời miếng đấy. Biết chúng tôi là du khách nên chị bán bún cá cũng có phần “xông xênh” hơn như thay cho lời giới thiệu về sự mến khách nơi quần đảo xa xôi này.

Những rặng dừa trải dài trên bờ cát vàng hoang sơ như muốn mời lữ khách phương xa ngồi nghỉ. Cảm giác sững sờ vì vẻ đẹp hoang sơ của Thổ Châu như người con gái đôi tám vô tư, trong sáng mà cũng căng đầy sức sống mãnh liệt. Lúc ở trên đội tàu Phụng Hiệp, tôi đã được tài công tư vấn lên đến đảo Thổ Châu, muốn tìm hiểu về đảo cứ tìm gặp ông Ba Trúng là “chuẩn luôn”. “Vâng, con muốn tìm nhà chú Ba Trúng, chú có thể chỉ giúp con được không?”. “Ơ, ông “Di Lặc” bữa nay có khách đến chơi nè”, mấy người dân trên đảo hồ hởi dẫn chúng tôi đến tận cửa nhà ông Ba Trúng. Hóa ra nhà ông không khó tìm lắm, nhưng điều làm tôi “khó chịu” hơn cả là ông đang ngồi nhậu với các thành viên của chính... đội tàu Phụng Hiệp. Mời khách vào nhà, ông Ba Trúng kêu vợ con ra chào khách rồi bảo tôi: “Chú từ xa đến, cứ nhập mâm cái đã. Còn muốn đi khám phá đảo thì phải xem sức chú uống được đến đâu”.

Giao lưu được vài tuần rượu, ông Ba Trúng cởi áo ra khoe những vết tích trên mình hồi mới ra đây lập nghiệp vào đầu những năm 90 thế kỷ trước. Nhìn bụng chủ nhà mến khách, tôi mới biết vì sao người dân trên đảo gọi ông là “Di Lặc”. Đoán được suy nghĩ của tôi, ông Ba Trúng cười khà khà bảo: “Bụng này tốn cơm lắm. Cá tôm ở đảo ngon khó đâu sánh bằng. Cứ cơm nóng rưới mắm tự làm thì 3-4 bát một bữa là chuyện thường”.

Đầu giờ chiều, ông Ba Trúng gọi tôi dậy, trao đồ nghề “tập sự” đi lặn ốc, bắt cá vào tay. Hồ hởi theo người đàn ông được coi là “già làng”, tôi tự tin bước chân theo lão “Di Lặc” lặn xuống biển. Tôi đeo vào người khoảng 10 cân chì, ông Ba Trúng dùng lượng chì nặng gấp đôi tôi mới có thể ngụp sâu dưới nước được. Thực sự tôi đã rất sững sờ vì cảnh đẹp thần tiên dưới đáy biển nơi đây. Đàn cá hề vẫn hồn nhiên bơi quanh lữ khách phương xa, rồi ngúng nguẩy bỏ đi khi thấy hai bóng đen to lớn mải mê bắt ốc. Lão ngư Ba Trúng chỉ bảo kinh nghiệm: “Thấy trên nền đá hay rặng san hô chỗ nào có đốm xanh đậm nhỏ thì đích thị đấy là ốc”. Hay thật, đúng là “đi hỏi già” có khác. Sau khi mừng rỡ bắt được một nắm ốc đủ loại, tôi mải mê ngắm nhìn cảnh đẹp dưới “thủy cung” Thổ Châu mà trong lòng lâng lâng. Vui vì cảnh đẹp nơi đây, mừng hơn khi được người dân trên đảo mến khách như lão “Di Lặc” chỉ bảo tận tình từng đường đi nước bước.

Tối đến, nhà ông Ba Trúng đông khách. Chủ nhà tuyên bố mọi người uống thoải mái vì cánh tài công ở đội tàu Phụng Hiệp có mấy thùng bia làm quà cho người trên đảo. Bát ăn của tôi ngồn ngộn đồ vì mấy cô chú ngồi cạnh cứ nhiệt tình gắp liên hồi. Ai nấy đều có nhã ý nhường đồ ngon cho khách từ xa đến. Đêm xuống, mấy người dân trên đảo vô tư lăn ra thềm trước nhà ông Ba Trúng đánh một giấc ngon lành.

Khi gà gáy vang góc đảo cũng là lúc vợ “Di Lặc”-bà Ba Rá gọi mọi người dậy ăn sáng với món bún riêu thơm nức, được “yểm trợ” thêm những khúc cá ngừ thơm ngọt đến tận chân răng. Ông Ba Trúng huýt sáo liên hồi. Tôi đoán ông vui lắm, vì chắc lâu rồi mọi người mới tụ tập ở nhà ông đông vui đến vậy. Thấy mọi người quần áo chỉnh tề, tôi ngạc nhiên chưa kịp hỏi thì ông bảo: “Để tôi dẫn cậu đến địa điểm đặc biệt này”. Thế rồi cùng mọi người, tôi đặt chân vào đền Thổ Châu. Trong mùi thơm của nhang khói, cả đoàn thành kính nghiêng mình tưởng nhớ những người dân, chiến sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Dẫn tôi ra ngắm những đóa sen trắng nở bung trước đền, ông Ba Trúng tâm sự: “Đất nước có được như ngày hôm nay là nhờ công cha ông đã bao đời gây dựng. Cậu về đất liền, nhớ bảo mọi người có ra “cù lao dài” tham quan thì đừng quên đến đền Thổ Châu thắp một nén nhang cho những người đã mất…”.

Theo chân đội tàu Phụng Hiệp trở về Kiên Giang, tôi cứ nhớ mãi câu nói của lão “Di Lặc”. Giang sơn cẩm tú có được như ngày hôm nay là nhờ bao thế hệ cha ông đã ngã xuống. Lần tới trở lại Thổ Châu, việc đầu tiên tôi làm sẽ là đến ngôi đền thiêng trên đảo thắp một nén nhang.

Theo Wikipedia, Thổ Châu là một quần đảo nằm trong vịnh Thái Lan, ở về phía tây nam đảo Phú Quốc và được xem là cực Tây Nam của Việt Nam. Toàn bộ quần đảo này cấu thành huyện đảo Thổ Châu, tỉnh Kiên Giang. Nằm cách bờ vịnh Rạch Giá 198km, đảo Thổ Châu là đảo lớn nhất trong quần đảo và thường được ghi tên là Poulo Panjang (gốc từ tiếng Mã Lai-Pulau Panjang, nghĩa là “cù lao dài” hoặc “đảo dài”) trên nhiều hải đồ của người phương Tây từ các thế kỷ trước.

MINH THƯ