Thị trường gạo Việt Nam

Kết quả khảo sát tại các siêu thị lớn như: Fivi Mart, V+, Big C, Lotte Mart… cho thấy, các loại gạo bày bán chủ yếu có xuất xứ từ Việt Nam, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc. Tỷ lệ gạo nhập khẩu so với gạo nội địa khoảng 50/50 nên việc mua gạo nhập trong các siêu thị lớn rất dễ dàng. Tuy nhiên, về chủng loại, gạo nội địa lại có sự đa dạng hơn hẳn.

leftcenterrightdel
Nông dân cần sản xuất theo chuỗi giá trị. 

Về giá, các loại gạo Nhật Bản, Thái Lan thường cao hơn gạo nội địa loại thường gấp 2 đến 3 lần. Loại cao nhất có giá 40-46 nghìn đồng/kg. Cùng một loại gạo, ở siêu thị khác nhau cũng có sự chênh lệch về giá. Tuy nhiên, sự chênh lệch này không quá lớn. Ví dụ, gạo Séng Cù nguồn gốc Yên Bái tại Fivi Mart giá 31 nghìn đồng/kg, tại siêu thị V+ lại có giá 34 nghìn đồng/kg.

Tại các đại lý bán lẻ gạo, những loại gạo nhập khẩu thường bày bán ít hơn so với các siêu thị. Hầu hết các đại lý chỉ bán chủ yếu gạo Việt Nam và một số ít loại gạo Thái Lan như: Tám thơm Thái, Thái đỏ. Theo người bán, tại những khu dân cư có mức sống trung bình, người tiêu dùng ưa chuộng gạo nội địa hơn các loại gạo nhập khẩu cao cấp.

Giá gạo tại các đại lý cũng rẻ hơn đáng kể so với siêu thị. Ví dụ, gạo Bắc Hương tại siêu thị Fivi Mart giá 20 nghìn đồng/kg thì ở cửa hàng bán lẻ giá chỉ khoảng 15-17 nghìn đồng/kg. Gạo Thái Lan tại siêu thị dao động ở mức 22-30 nghìn đồng/kg, trong khi ở đại lý chỉ khoảng giá 20 nghìn đồng/kg. Qua khảo sát, người dân chủ yếu dùng gạo Bắc Hương, tám Điện Biên, tám thơm. Có ý kiến cho rằng, gạo Thái nấu lên thường nhạt, không ngon cơm bằng gạo nội địa.

Hiện nay, người tiêu dùng còn có xu hướng sử dụng loại gạo nhập khẩu từ Cam-pu-chia với giá bán lẻ khoảng 20 nghìn đồng/kg. Loại gạo này được cho là sản xuất bảo đảm an toàn, dẻo thơm không kém gạo Thái và có giá không quá cao so với các loại gạo thông thường. Nhưng khi được hỏi, người bán hàng cũng không chắc chắn về nguồn gốc mà chỉ biết thóc được nhập về từ Cam-pu-chia, xay xát tại Việt Nam và bán ra thị trường.

Khảo sát một số đại lý gạo tại vùng nông thôn, loại gạo bán được nhiều nhất thường là Khang Dân (11 nghìn đồng/kg), Bắc thơm (15 nghìn đồng/kg). Gạo Thái có sức bán chỉ bằng khoảng 1/3 so với gạo nội địa loại thường.

Sức ép từ gạo nhập khẩu

Kết quả khảo sát sơ bộ trên cho thấy, tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng gạo Việt vẫn cao hơn đáng kể so với gạo nhập khẩu. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là tốc độ gia tăng của gạo nhập khẩu, đặc biệt là về chủng loại, trong thời gian gần đây.

Dù mới xuất hiện ở thị trường miền Nam khoảng hai năm nhưng gạo Cam-pu-chia đã gây ra một “cơn sốt”. Các loại gạo miền Nam có đặc tính hạt đẹp đều, xay xát có thêm quá trình đánh bóng nên khi nấu thường cho cơm dẻo, trắng, nhưng khi ăn lại có cảm giác hơi nhạt. Trong khi gạo Cam-pu-chia vừa có được những đặc tính của gạo miền Nam là hạt gạo đều đẹp nhưng khi nấu lại nở hơn, ngọt hơn các loại gạo miền Nam. Mặt khác, gạo Cam-pu-chia có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Trong khi, người tiêu dùng vẫn lo ngại gạo Việt Nam sử dụng nhiều phân bón hóa học, thuốc trừ sâu. Theo ông Lê Văn Bảnh, Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, gạo Cam-pu-chia đa số là gạo mùa, được trồng duy nhất 1 vụ/năm nên sản lượng không nhiều, năng suất thấp. Tuy nhiên, thông thường những giống gạo này có thời gian trồng dài nên có chất lượng tốt hơn. Hiện nay việc nhập các sản phẩm gạo Cam-pu-chia chủ yếu bằng con đường tiểu ngạch nên khó kiểm soát được số lượng và chất lượng.

leftcenterrightdel

Gạo Việt Nam bị cạnh tranh trên chính “sân nhà”. Ảnh: Duy Hùng 

Mới đây nhất, gạo Hàn Quốc đang “đổ bộ” ngày càng nhiều vào Việt Nam. Theo ông Ko Sang Goo, một doanh nghiệp lớn về nhập khẩu nhiều mặt hàng của Hàn Quốc về Việt Namqua thời gian xuất khẩu thử nghiệm, gạo Hàn Quốc được tiêu thụ tốt ở Việt Nam cho dù giá đắt gấp 3 lần. Nguyên nhân chính là do chất lượng gạo Hàn Quốc cạnh tranh, kênh phân phối được hỗ trợ bởi chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện ích của Hàn Quốc. Bên cạnh đó, gạo ngoại đang được một bộ phận cư dân thành thị ưa chuộng. Vì thế, thời gian tới, thị trường tiêu thụ gạo tại Việt Nam chắc chắn có thêm đối thủ là gạo Hàn Quốc.

Một loại gạo khác tuy được nhập khẩu không nhiều nhưng lại nhanh chóng nổi tiếng trên thị trường Việt Nam. Đó là loại gạo dài Niu Di-lân (New Zealand) được tẩm huyết nhung hươu. Loại gạo này có giá rất cao, tới 800-900 nghìn đồng/kg. Đây là loại gạo đặc sản cao cấp ở Niu Di-lân, được trồng theo phương pháp đặc biệt. Khi thu hoạch, lúa được đem xay xát sạch rồi lấy huyết nhung hươu (quá trình cắt nhung hươu sẽ có huyết) tẩm vào hạt gạo để huyết nhung thẩm thấu từ từ vào từng hạt. Sau khi tẩm ướp và sấy khô, hạt gạo sẽ có màu nâu đỏ, nhạt hơn màu gạo lứt của Việt Nam. Theo Đông y, huyết hươu là một vị thuốc giúp sinh tinh, chữa di tinh, liệt dương, chữa vô sinh; giúp ích huyết, bổ tủy; giúp chữa lành các chứng tổn thương, khỏe gân xương và tăng tuổi thọ.

Về mặt số lượng và kim ngạch, hiện chưa có con số chính thức về gạo nhập khẩu vào thị trường Việt Nam, nguyên nhân là mặt hàng này chủ yếu đi qua con đường tiểu ngạch; trong khi trên thị trường, gạo Việt Nam luôn xuất hiện cuộc so găng của nhiều loại gạo nước ngoài như: Gạo Thái Lan, gạo Nhật Bản, gạo Cam-pu-chia hay thậm chí gạo Lào, Mi-an-ma. Gạo cao cấp tại Việt Nam luôn có sự cạnh tranh quyết liệt từ gạo Thái Lan, Nhật Bản với một số gạo đặc sản vùng miền của Việt Nam. Ở phân khúc gạo giá trung bình có sự cạnh tranh mạnh từ gạo Cam-pu-chia và Mi-an-ma, Lào...

Xuất khẩu tụt dốc

Vẫn liên tục đứng trong tốp đầu những nhà xuất khẩu gạo thế giới nhưng từ năm 2014, xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam bắt đầu tụt dốc. Năm 2015, số lượng gạo xuất khẩu đạt hơn 6,5 triệu tấn, tăng 4% so với năm 2014 nhưng giá trị chỉ khoảng 2,7 tỷ USD, giảm 6% so với cùng kỳ. Giá xuất khẩu bình quân giảm 33,7 USD/tấn so với năm 2014. Sản lượng gạo xuất khẩu cả năm 2016 chỉ đạt khoảng 4,88 triệu tấn (so với đỉnh cao 7,5 triệu tấn vào năm 2012) và giá trị 2,2 tỷ USD (năm 2012 đạt 3,5 tỷ USD), giảm 25,8% về khối lượng và giảm 21,2% về giá trị so với năm 2015. Đây là mức giảm kỷ lục trong vòng 10 năm qua. Vì thế, có thể nói, đây là một năm đáng buồn cho gạo Việt Nam khi mà những quốc gia “hàng xóm” như Cam-pu-chia, Thái Lan… có những bứt phá lớn thì gạo Việt Nam đang bị bỏ lại đằng sau rất xa. Ở thị trường cao cấp, gạo Việt Nam không thể cạnh tranh được bằng chất lượng, thương hiệu. Ở thị trường thấp hơn, gạo Việt Nam cũng phải trầy trật về giá.

Năm 2017, theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam có thể tương đương hoặc tăng nhẹ so với năm ngoái, dự kiến khoảng hơn 5 triệu tấn. Thực tế, xuất khẩu gạo trong 3 tháng đầu năm 2017 đã giảm đáng kể. Trong 3 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu ước đạt 1,28 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch gần 570 triệu USD, giảm 18% về lượng và giảm 17,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Ngoài thị trường Trung Quốc và Phi-líp-pin gia tăng, một số thị trường truyền thống xuất khẩu gạo của Việt Nam giảm mạnh như: Gha-na, Hồng Kông (Trung Quốc), Ma-lai-xi-a…

Nguyên nhân đầu tiên của sản lượng gạo xuất khẩu tụt dốc, ở bình diện chung, chính là vì căn bệnh thành tích. Trong nhiều năm liền, ngành sản xuất lúa gạo liên tục đề ra mục tiêu xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước. Kết quả, đã có thời điểm xuất khẩu gạo Việt Nam đứng đầu thế giới về sản lượng. Để rồi, căn bệnh thành tích ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất. Nhiều năm nay, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu gạo cấp thấp, giá rẻ, các loại gạo có giá trị cao chỉ chiếm dưới 10%. Doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam chỉ chăm chăm vào những thị trường dễ tính, ăn gạo giá rẻ như Trung Quốc, châu Phi, các nước Đông Nam Á. Đến khi thị trường thay đổi, năm 2015, các nước châu Phi chuyển sang ăn gạo chất lượng hơn, gạo Thái Lan đã chiếm lĩnh thị trường này từ tay Việt Nam. Tiếp đến là Trung Quốc, từ năm 2014 đến nay, doanh nghiệp Việt Nam chỉ xuất khẩu được gạo cao cấp, gạo trắng 5% tấm và gạo thơm.

Để lấy lại vị thế trên thị trường gạo thế giới, theo GS Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp cao cấp, cần có tư duy mới trong sản xuất lúa gạo. Theo đó, phải làm theo chuỗi giá trị, liên kết 4 nhà (nhà nước-nhà khoa học-nhà doanh nghiệp-nhà nông) để cùng sản xuất. Từ đó, hướng người nông dân theo quy trình VietGAP vừa ít tốn kém, vừa ít sâu bệnh, chất lượng cao, vệ sinh an toàn thực phẩm. Khi nguyên liệu lúa được doanh nghiệp tiêu thụ với giá phải chăng, doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu chất lượng, giá tốt, bảo đảm chất lượng, có nhà máy cơ sở chế biến, đóng gói bao bì hiện đại thì ngành lúa gạo Việt Nam hoàn toàn có khả năng cạnh tranh tốt hơn.

HƯƠNG GIANG – NGUYỄN MAI