Ngay ở những bước đầu tiên của quá trình đàm phán hậu “ly hôn” (chính trị) này đã ẩn chứa những chỉ dấu cho thấy, đó sẽ là một quá trình khó khăn và có thể sẽ không ít đau đớn.

Cả hai phía cùng thể hiện quan điểm cứng rắn ngay từ đầu. Trong bức thư dài 6 trang của bà T.May gửi EU, phía Anh đã “đe” rằng nếu không đạt được một thỏa thuận giữa việc Anh rời khỏi EU, đồng thời với việc thiết lập quan hệ đối tác mới (có thể hiểu như là một hiệp định thương mại giúp cho kinh tế Anh đỡ bị thiệt hại do Brexit) thì rất có thể Anh sẽ không tham gia đóng góp vào quá trình bảo vệ an ninh (phòng, chống tội phạm và khủng bố) cho EU như trước nữa!

Có thể hiểu được sự giận dữ của các quan chức EU trước thông điệp ngầm mang tính uy hiếp này cũng như việc EU nhanh chóng gạt bỏ yêu cầu đòi đàm phán “đồng thời” của phía Anh.

Bản chất của câu chuyện nằm ở chỗ EU, vốn có nhiều ưu thế hơn trong đàm phán với Anh do lẽ đảo quốc sương mù phụ thuộc vào EU nhiều hơn là theo chiều ngược lại, sẽ phải tỏ ra cứng rắn nếu không muốn một quá trình domino diễn ra, đe dọa phá vỡ kết cấu liên minh đã được xây dựng trong nhiều thập kỷ qua.

Việc nước Anh rời khỏi EU rõ ràng không đơn giản như việc công dân Anh chỉ thay cuốn hộ chiếu màu đỏ của EU bằng cuốn hộ chiếu màu xanh truyền thống của Anh. Nó liên quan đến vô vàn các thủ tục phức tạp về luật, về thuế khóa, thủ tục hải quan giữa Anh với 27 thành viên còn lại của EU. Không đạt được một thỏa thuận thương mại sau 2 năm đàm phán, các doanh nghiệp Anh sẽ phải chịu tổn thương do không được hưởng các điều kiện ưu đãi khi thực hiện các dự án ở thị trường các nước thành viên EU. Viễn cảnh xuất hiện làn sóng các nhà đầu tư tháo chạy-trước đó có thể là sự dịch chuyển các trụ sở cơ quan, trung tâm tài chính-khỏi đảo quốc sương mù, cũng là điều có thể hình dung ra.

Thủ tướng Anh T.May từng tuyên bố rằng “thà không có thỏa thuận nào còn hơn là đạt được một thỏa thuận tồi”, nhưng viễn cảnh “Brexit cứng”, tức là không đạt được thỏa thuận nào với EU, chứa đựng quá nhiều rủi ro đối với kinh tế Anh. Nước Anh có thể bớt được khoản đóng góp tài chính hằng năm cho EU (ngoại trừ khoản phí “ly hôn” đóng một lần trong quá trình thương thảo ước tính lên đến 60 tỷ euro), nhưng việc các doanh nghiệp Anh không tiếp cận được với thị trường EU sẽ mang lại những thiệt hại lớn hơn nhiều. Nó sẽ có tác động tiêu cực đến Anh với tư cách là nền kinh tế lớn thứ năm trên thế giới, cũng như vai trò của Luân Đôn (London) có còn là một trong hai trung tâm tài chính hàng đầu thế giới hay không (trung tâm kia là Niu Y-oóc (New York) của Mỹ). 

Như vậy, có thể thấy là bằng việc buộc Anh phải trả giá đắt cho việc rời khỏi mái nhà chung, EU sẽ gửi thông điệp đến bất cứ một thành viên nào muốn theo chân Anh rời khỏi EU. Nếu như một nước Anh rời khỏi liên minh mà không phải chịu những tổn thất hữu hình thì hà cớ gì các nước khác lại phải ở lại? Và nếu đạt được một thỏa thuận có lợi (hay giảm bớt tổn thương) cho Anh thì câu hỏi dĩ nhiên đặt ra là vì sao lại có sự bất công như vậy, khi Anh được phép giữ lại các quyền lợi như là thành viên EU, trong khi lại chối bỏ những khoản đóng góp cũng như các nghĩa vụ khác với EU?

Xét theo bối cảnh tương quan lợi ích giữa EU và Anh, một thỏa thuận “win-win”-hai bên cùng thắng-là điều khó có thể xảy ra. Lạc quan nhất là quá trình đàm phán cố gắng đạt tới một vị thế cả hai bên, Anh và EU, cùng giảm tối đa mức độ "đau đớn" gây ra cho nhau, điều hiếm khi có được sau những cuộc "ly hôn" đình đám.   

YÊN BA