Tuy nhiên, tuyên bố của người đứng đầu ngành ngoại giao Mỹ còn cho thấy một khía cạnh khác: Có vẻ như chính sách ngoại giao của Mỹ đang dần quay trở lại đường ray cổ điển, khi Mỹ trấn an các đồng minh châu Âu của mình rằng cam kết “bảo vệ” châu Âu không hề thay đổi!

Sở dĩ Mỹ phải liên tục lên tiếng trấn an bởi vì hồi tháng 1-2017, Tổng thống Donald Trump tuyên bố rằng “NATO đã lỗi thời”. Tiếp đó, đến tháng 5-2017, ngay tại Tổng hành dinh của NATO ở Bruxelles (Bỉ), Tổng thống Mỹ tiếp tục trách móc các nước thành viên NATO về việc đóng góp tài chính cho tổ chức(tức là cho các hoạt động phòng vệ chung của NATO). Không nể mặt các chủ nhà, ông Donald Trump thẳng thừng: “23 trong số 28 thành viên vẫn chưa thực hiện phần đóng góp tài chính của mình” và điều này là “không công bằng cho người dân và người đóng thuế Mỹ”. 

Những thông điệp đó được tiếp nhận một cách bất an trong các hành lang quyền lực ở châu Âu. Trước những áp lực từ Washington (đòi phải chi trả nhiều hơn) cũng như một thực tế là nước Anh đang trên con đường Brexit để rời bỏ EU, các thành viên chủ chốt của EU đã buộc phải đẩy nhanh tiến trình tích hợp quân đội của các thành viên để có một đội quân phòng thủ chung, một ý tưởng đã xuất hiện từ hơn nửa thế kỷ trước nhưng chưa bao giờ trở thành hiện thực. 

Việc hình thành một đội quân chung như vậy được nhiều chuyên gia đánh giá là không có tương lai, bởi hẳn nhiên là các thành viên EU có những ưu tiên chính trị khác biệt, thậm chí đối nghịch nhau. Một binh sĩ của Bồ Đào Nha làm sao có thể tìm thấy mục đích của cuộc chiến khi anh ta chiến đấu trên lãnh thổ Cộng hòa Séc và ngược lại? Sẽ không thể tìm thấy một “tình yêu EU” chung chung nơi các binh sĩ trong một đội quân chung như vậy! Ấy là chưa kể còn vô vàn những khác biệt khác, khi mà giữa các thành viên EU có những khoảng cách lớn về phát triển kinh tế, xã hội cũng như an ninh, quốc phòng.

Vậy thì suy đi tính lại, NATO, mà sự tồn tại của nó là nhằm để đối trọng với khối Hiệp ước Warsawa như mục tiêu ban đầu đề ra, sẽ đóng vai trò thế nào khi mà cái đối trọng kia bỗng dưng biến mất? Muốn NATO nói riêng, châu Âu nói chung, cùng chung vai gánh vác để bảo đảm lợi ích toàn cầu của Washington thì đâu có cách nào khác là Mỹ vẫn phải đóng vai trò chi phối về mặt tài chính cũng như chính sách. Luật chơi ở đây khá đơn giản: “Ai chi tiền, người đó có quyền đặt nhạc!”.

Vậy nên bất chấp những tuyên bố về một “nước Mỹ trên hết” cả trong lĩnh vực quốc phòng thì dường như các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đang dần quay trở lại quỹ đạo truyền thống, với việc cam kết gắn kết chặt chẽ với các đồng minh lâu năm ở châu Âu. Các thách thức đối với châu Âu như chủ nghĩa khủng bố quốc tế cũng tiềm ẩn nguy cơ đối với chính nước Mỹ. Bài học về tổ chức Al Qaeda gắn liền với vụ khủng bố kinh hoàng ngày 11-9-2001 vẫn còn nóng hổi. Nếu bớt đi tầm ảnh hưởng (cùng sự hợp tác) ở châu Âu cũng đồng nghĩa là làm tăng mối đe dọa an ninh đối với bản thân nước Mỹ.

Dĩ nhiên, để đặt cơ sở cho sự cam kết “đồng cam cộng khổ” với các đồng minh châu Âu, Mỹ cần tìm một “kẻ thù” cho châu Âu và đã có sẵn: Nước Nga. Không ít lần, mối “đe dọa” của nước Nga đối với châu Âu được đưa ra để biện minh cho các hoạt động tăng cường tiềm lực của NATO ở sát đường biên với nước Nga. Quan hệ Nga-Mỹ bị phủ bóng đen bởi cuộc khủng hoảng ở Ukraine. Vẫn ông Rex Tillerson tuyên bố về triển vọng của mối quan hệ này: “Quan hệ giữa chúng tôi sẽ không bao giờ trở lại bình thường cho đến khi vấn đề Ukraine được giải quyết”.

Nhưng có lẽ ông Rex Tillerson quên mất một câu ngạn ngữ quen thuộc của phương Tây: Không bao giờ nói là “không bao giờ”!

Tinh thần này lại càng đúng trong chính sách ngoại giao.  

YÊN BA