Pả Hiếu

Trong mường tượng của tôi, Pả Hiếu phải là một người đàn ông có bề ngoài thật mạnh mẽ. Bởi có thế, ông mới có thể làm nên những việc mà ít ai ngờ. Thế nhưng, ấn tượng ban đầu trước Pả Hiếu lại là một ông già Vân Kiều hiền khô, nói năng nhỏ nhẹ, chậm rãi.

leftcenterrightdel
'Cây đàn" Đakrông. 
Pả Hiếu ở thôn Pa Hy, xã Tà Long, huyện Đakrông. Tên thật của ông là Vỗ Công, tên khai sinh là Hồ Xuân Neng, tên thường gọi là Pả Hiếu (trong tiếng Vân Kiều, “Pả” có nghĩa là bố, Hiếu là gọi theo tên con trai của ông).

Pả Hiếu năm nay đã gần 80 tuổi. Thời chiến tranh, ông tham gia quân ngũ, được phân về công tác tại Binh trạm 47, Quân khu Bình Trị Thiên. Năm 1977, Pả Hiếu xuất ngũ về quê.

Không quá vồn vã, nhưng cái cách tiếp khách của Pả Hiếu cũng đủ để người đến có cảm giác ấm áp. Chậm rãi nâng chén trà nhạt, Pả Hiếu bồi hồi nhớ lại hơn hai thập kỷ trước. Ông mở chuyện: “Việc học ở đây vất vả lắm. Đường sá toàn đèo dốc, nhà cách trường cả chục cây số, vì thế, đám trẻ cứ bỏ học dần. Thương quá, tôi quyết đón chúng về ở chung với gia đình để tiện cho việc học hành”.

leftcenterrightdel
Trường Mẫu giáo  Tà Long được xây dượng trên nền mảnh đất do Pả Hiếu hiến tặng.
Nhà Pả Hiếu ngay gần Cụm trường Tiểu học, THCS và Mầm non Tà Long. Đầu năm 1993, 4 học sinh đầu tiên được đón về nhà Pả Hiếu. Đó đều là các cháu ở những bản xa như: Tà Lao, Vôi, Chai, Ly Tôn… cách trường hàng chục cây số, đường giao thông chủ yếu là đường mòn, đường đất. Dù gia cảnh chả mấy sung túc nhưng gia đình ông lo mọi việc ăn ở, không lấy của các cháu một cân thóc hay củ khoai nào. Những năm sau đó, năm nào gia đình Pả Hiếu cũng nhận nuôi từ 2 đến 5 cháu học cấp 1 và cấp 2. Vì thế, ngôi nhà nhỏ của hai vợ chồng Pả Hiếu không bao giờ vắng tiếng cười của trẻ nhỏ.

Tính đến hiện tại, Pả Hiếu đã nhận nuôi 25 học sinh. Tấm lòng nhân hậu của vợ chồng ông đã giúp cho nhiều học sinh có điều kiện để yên tâm học tập. Một số em học xong có điều kiện được học lên các cấp cao hơn. Trong đó, một người trở thành bí thư chi bộ thôn, một em tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Vinh và trở về dạy học ở thôn biên giới thuốc xã Tà Long. Cái lý do khiến Pả Hiếu quyết định giúp trẻ đến trường thật giản dị. Ấy chỉ là: “Tôi không được đến trường. Con tôi vì khó khăn nên cũng không được đi học. Không có cái chữ, chúng chỉ biết quanh quẩn bên nương rẫy. Tôi không muốn các cháu trong xã phải như tôi và con mình”.

Mà tấm lòng của Pả Hiếu đâu chỉ có vậy!

Ở đâu có bản, ở đó có điểm trường

Tháng 9-2005 trở thành dấu ấn đáng nhớ đối với người dân xã Tà Long, một xã diện đặc biệt khó khăn thuộc huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị. Một trường mẫu giáo khang trang được xây dựng. Từ đây, các cháu trong độ tuổi mầm non ở xã Tà Long có được nơi học tập, vui chơi như mong ước. Và từ nhiều miền quê trong tỉnh, các cô giáo đến đây cùng góp sức tạo dựng một môi trường giáo dục tốt và phù hợp, đạt được nhiều thành tích trong học tập và giảng dạy. 

leftcenterrightdel
Điểm trường Ba Ngày vẫn thiếu thốn đủ bề. 
Ngôi trường ấy được xây trên mảnh đất 200m2 do Pả Hiếu hiến tặng!

Cô Thái Thị Huế, quê Vĩnh Tú, Vĩnh Linh, Hiệu trưởng Trường mẫu giáo Tà Long, kể lại: “Lúc đầu mới đến đây khó khăn đủ bề, cũng ngần ngại lắm, nhất là cô giáo nói tiếng Kinh học sinh không hiểu được. Chúng tôi tự học tiếng Bru - Vân Kiều qua học sinh, dần dần chúng tôi hiểu được trẻ nói gì, thích gì... vì vậy công tác giảng dạy cũng có hiệu quả hơn”. 

Xã Tà Long có diện tích tới 186,18km2, dân cư phân bố lại không đồng đều. Những bản như Sa Ta, Chai, rồi A Đu, Ba Ngày... nằm cách xa trung tâm hàng chục ki-lô-mét đường rừng gập ghềnh, nguy hiểm. Nhưng bản làng ở đâu thì có trường học ở đó, những cô giáo mầm non không quản ngại khó khăn gian khó và nguy hiểm để vào cắm sâu trong bản, cùng ăn ở với đồng bào, dạy cho các cháu biết lời ca tiếng hát, biết được con chữ... A Đu, Ba Ngày là những bản làng xa xôi nhất của xã Tà Long. Không ai biết được chính xác từ trung tâm xã đến những bản làng này bao nhiêu cây số. Đến với Ba Ngày, A Đu chỉ có thể đi bằng chính đôi chân của những cô giáo trẻ. Vì thế, độ dài của con đường được lượng hóa bằng cách đếm thời gian “đi bộ ba đến bốn giờ đồng hồ mới đến nơi”. Đây là một khu gần như biệt lập với bên ngoài. Không điện đài, giao thông đi lại khó khăn, con đường gập ghềnh những mỏm đá, phải len lỏi giữa những cây dứa dại, giang rừng, phải đưa tay vịn vào từng khối đá, lội qua những con suối, con khe... Khó khăn là thế nhưng khi được phân công các giáo viên đều vui vẻ nhận nhiệm vụ, có cô còn xung phong đến với Ba Ngày và A Đu. 

leftcenterrightdel
Một buổi học ở điểm chính Trường Mẫu giáo Tà Long.
Cái sự học của khối mầm non ở Tà Long không chỉ khó khăn về địa hình. Ở đây, cái gì cũng thiếu, trong đó thiếu nhất là đồ dùng dạy học. Ngay tại điểm chính cũng chỉ tạm đủ đồ dạy. Trong A Đu, Ba Ngày, Chai… thì thiếu trầm trọng. Tại những điểm này, các cô đều phải tự làm đồ dùng học tập như bộ đồ học toán, về chủ điểm ngành nghề thì làm cái xẻng, cái cuốc; chủ đề gia đình thì làm cái bát, cái thìa... Khó khăn nữa, cũng là khó khăn rất khó giải quyết, đó là vấn đề lớp học. Các điểm trường trong các bản xa đều là nhà tạm, mái lợp phi-brô xi măng, tường rào tre, nền đất.

Khó khăn đủ bề, nhưng có một điều rất đáng ngạc nhiên là tỷ lệ trẻ đến trường ở Tà Long đặc biệt cao. Có lẽ, là do tấm lòng của những cô giáo nơi đây.

Học sinh mầm non ở Tà Long chủ yếu là người dân tộc Vân Kiều. Cô Huế kể, trẻ rất hiếu học nên không phải vận động nhiều. Chỉ có một số nhà các con xa điểm trường quá, về mùa mưa không qua được sông suối, giáo viên phải đến trao đổi với phụ huynh để đưa các con đi. Dù phải đi học xa, nhiều điểm tới 3km nhưng các con vẫn đến lớp đông lắm! Có lớp tới 36 cháu. Trung bình, tỷ lệ trẻ 3-5 tuổi đến trường luôn đạt hơn 70%, trẻ 5 tuổi là 100%.

Chiều muộn, dòng Đakrông vẫn cồn cào dưới gầm cầu. Sương mù đã bắt đầu giăng trắng. Vẻ mặt Pả Hiếu anh ánh sự tiếc nuối vì khách quyết ra về. Cô Huế vẫn không dứt nổi chuyện đời, chuyện nghề… Nhiều lắm, bên dòng Đakrông còn biết bao thứ để người đến không nỡ vội đi!

Bài và ảnh: HUY ĐĂNG