“Liệt sĩ” trở về

Chúng tôi đến thôn Nậm Hà, xã Kan Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Con đường mới dài 74km từ Pa Tần đi tới trung tâm huyện Mường Tè đã rút ngắn huyện vùng sâu, vùng xa này với “thế giới bên ngoài”, song đây cũng là một cung đường đầy cam go, thử thách. Chúng tôi đi trên đỉnh núi, nhìn dòng sông Đà bên dưới cuộn ngầu sắc đỏ. Nhìn lại nhiều đoạn đường vừa mới đi qua, người ta không khỏi rùng mình vì những đoạn chân đường lở lói, chừng muốn đổ sụp.

leftcenterrightdel
Ông Hù Chà Chí giới thiệu những tấm huân chương mà ông được tặng thưởng trong thời kỳ quân ngũ.

Con sông Đà được tiếp nước bởi hai dòng Nậm Na và Nậm Lay, đổ ra ngã ba lòng hồ thủy điện Sơn La ở đoạn thị xã Mường Lay (tỉnh Điện Biên) tạo nên một khung cảnh kỳ vĩ hiếm có trên núi rừng Tây Bắc. Trong cuộc biến thiên vĩ đại ấy, có một cộng đồng nhỏ buộc phải thay đổi lối sống ngàn đời biệt lập của mình, ấy là dân tộc Si La ở thôn Nậm Hà. Bản trước kia nằm phía tả ngạn sông Đà, người dân Si La có thói quen sống ở trên cao làm nương rẫy. Năm 2012, thôn được di dời sang hữu ngạn sông, sát với tuyến đường Mường Tè-Nậm Nhùn. 

Đêm đó, chúng tôi ở trong nhà anh Lý Chà Lối, Chủ tịch UBND xã Kan Hồ. Nhà Lý Chà Lối ở bản tái định cư Seo Hải, nằm trên đỉnh một quả đồi khá chênh vênh ven đường. Chúng tôi ngồi bên hiên nhà uống nước, ngắm trăng, hỏi chuyện phong tục tập quán rồi lại hỏi chuyện lịch sử xa xưa. Anh Lối đã ngoài 50 tuổi nên nhiều chuyện xưa, tích cũ cũng biết đôi chút. Anh thật thà tâm sự: “Thôi, chờ đến sáng hôm sau tới nhà già làng hỏi những chuyện ấy mới rõ được”.

Sáng hôm sau, đúng hẹn, anh dẫn chúng tôi tới thăm gia đình ông Hù Chà Chí, một cựu chiến binh trong kháng chiến chống Mỹ rất hiếm hoi của vùng đất này. Cựu chiến binh Hù Chà Chí năm nay đã 71 tuổi nhưng trông rất nhanh nhẹn. Trí nhớ còn rất tốt, ông sang sảng kể chuyện xưa. Ông nói cuộc đời ông khổ lắm, cho đến khi nhập ngũ, thế nên trong chiến đấu dù gian khổ, hy sinh cũng không tiếc tấm thân này.

Chưa lọt lòng mẹ, Hù Chà Chí đã mất cha, chưa hết tuổi bế bồng thì mất mẹ. Suốt thời thơ ấu, cậu bé phải sống nhờ, ở đậu trong nhiều gia đình anh em họ hàng. Người Si La ở Việt Nam có 5 dòng họ chính, mỗi nhóm họ thờ cúng tổ tiên chung một ban thờ đặt ở nhà vị trưởng họ. Bất cứ ai có chung ban thờ thì đó là anh em. Như vậy có thể thấy khái niệm anh em của người Si La khá rộng. Và Hù Chà Chí được nuôi dưỡng trong vòng tay của anh em họ hàng rộng lớn đó.

Năm 1964, vừa tròn 17 tuổi, Hù Chà Chí lên đường nhập ngũ vào lực lượng công an vũ trang tỉnh Lai Châu (từ năm 1979 gọi là Bộ đội Biên phòng) và được biên chế về Đồn 7 nằm ở trung tâm huyện Mường Nhé. Thời gian này, Mỹ đang tiến hành Chiến tranh đặc biệt ở Lào và hậu thuẫn cho lực lượng ngụy Lào, phỉ Lào đánh phá, quấy rối biên giới Việt Nam. Đến năm 1968, Sư đoàn 316 của Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với bộ đội Pathet Lào tiến công giải phóng Nậm Bạc (huyện Luangprabang, Lào). Lực lượng công an vũ trang tỉnh Lai Châu (cũ) cũng tham gia chiến dịch này. Lúc đó, Hù Chà Chí là trinh sát viên. Một trong những kỷ niệm nhớ nhất trong đời ấy là lần trinh sát phía sâu trong hậu phương địch, ông cùng hai đồng đội khác bị địch bao vây suốt một tuần lễ. Tổ trinh sát hết lương thực phải nhặt hạt dẻ rừng để ăn. Không ngờ loại hạt dẻ này ăn nhiều bị say, cả tổ trinh sát bị say nằm cứng đờ dưới đất. Đúng lúc ấy, địch truy lùng ngang qua nhưng thật may mắn là chúng lại không phát hiện ra ba trinh sát đang say nằm ngay trước mũi súng.

Trong chiến dịch giải phóng Nậm Bạc, có ba chiến sĩ người Si La hy sinh, đó là Hù Chà Cho, Lì Chà Sú và Pờ Chà Le. Vậy là cả đồn biên phòng có 4 chiến sĩ người Si La, chỉ mình Hù Chà Chí sống sót trở về. Ông kể: “Sau chiến dịch Nậm Bạc bên đất Lào, mọi người truyền tai nhau có ba chiến sĩ người Si La hy sinh. Lúc đó cũng có một anh người miền xuôi tên là Chí hy sinh trong trận này nên mọi người cho rằng đó là tôi. Ở địa phương đã làm lễ truy điệu, dòng họ đã nhận bằng Tổ quốc ghi công thì tôi được về phép thăm nhà. Lúc đó, mọi người mới biết là tôi còn sống. Tôi cũng kể lại chuyện ba liệt sĩ người Si La ở Mường Nhé đã hy sinh trong hoàn cảnh nào, mọi người đều khóc thương và quyết định thờ các liệt sĩ trong nhà thờ dòng họ”.

Năm 1969, Hù Chà Chí được cử đi học tại Trung tâm tập huấn do Cục Trinh sát, Công an nhân dân vũ trang (Đoàn 268) tổ chức tại Gia Lâm, Hà Nội. Sau một năm 6 tháng, kết thúc khóa tập huấn, ông được phong quân hàm thiếu úy. Năm 1971, Hù Chà Chí kết hôn với Pờ Cố Luyện, được đơn vị tạo điều kiện nơi ăn chốn ở gần đồn nhưng bà cảm thấy nhớ quê quá, đến năm 1973, ông xin xuất ngũ và được cấp trên chấp thuận. Hai vợ chồng đưa nhau về Nậm Hà sinh sống từ đó đến nay.

Những bức thư tình thành giáo án

Những ngày đóng quân tại Mường Nhé, Hù Chà Chí luôn thể hiện là một chiến sĩ công an vũ trang gần gũi với nhân dân, chịu khó, cần cù trong lao động. Tại đơn vị, Chí cũng tham gia tăng gia sản xuất được rất nhiều rau màu, chăn nuôi gà vịt, cải thiện bữa ăn trong đơn vị. Chí còn có tài đánh đàn “tứ pề lạc thu” (một loại đàn độc đáo của dân tộc Si La có ba dây, bầu đàn làm bằng ống tre). Chính nhờ cây đàn này mà Hù Chà Chí đã làm quen được với cô gái nết na, dịu hiền người Si La ở Mường Nhé là Pờ Cố Luyện.

leftcenterrightdel
Ông Hù Chà Chí và con trai út Hù Chà Cưới.

Từ năm 1971, anh thiếu úy công an vũ trang trẻ tuổi Hù Chà Chí cũng được đơn vị cử nắm địa bàn “cắm bản” kiêm giáo viên tay ngang. Ở xã Chung Chải, huyện Mường Nhé có một bản người Si La, đó là bản Nậm Sìn. Pờ Cố Luyện mồ côi cha mẹ từ nhỏ cũng phải sống nhờ vào họ hàng, anh em. Hai người có hoàn cảnh tương đồng nên dễ thông cảm và tình yêu sớm nảy nở trong lòng của cả anh và chị. Giống như nhiều thanh thiếu niên ở Chung Chải, Pờ Cố Luyện cũng được đi học nhưng do ít sách, báo nên thường bị tái mù chữ. Hù Chà Chí lúc đó có một “sáng kiến” rất tuyệt vời là viết thư cho cô học trò này để cô có cái tập đọc. Tất nhiên, những bức thư đầu tiên của họ giống như lứa thanh niên lúc bấy giờ đều tập trung tả tình yêu đất nước, khát vọng hòa bình, không hề có chút riêng tư cá nhân. Và những bức thư đó được bạn bè Luyện chuyền tay nhau như một loại “tài liệu học tập”. Cho đến một ngày, cả đám thanh niên ấy ré lên cười khi đánh vần ra ba chữ “anh yêu em”, Luyện bị chúng bạn trêu, mặt cứ đỏ dừ lên mãi. Và cũng rất nhanh, nội dung bức thư ấy được khoe với anh em chiến sĩ trong Đồn Công an vũ trang Mường Nhé. Đồng chí Trân, Chính trị viên đồn, nói đã yêu nhau rồi thì nên sớm tổ chức đi thôi. Vậy là cũng rất nhanh, 60 cán bộ, chiến sĩ trong đồn, mỗi người một chân một tay giúp đồng đội. Một đám cưới giản dị mà trang trọng diễn ra ngay sau đó. Đơn vị cũng tạo điều kiện xây dựng cho hai người một tổ ấm, đó là quãng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời của hai người con côi cút. Rất may, họ không hề cô đơn, bởi một bên có đồng đội, một bên có những người họ hàng.

Hai vợ chồng Hù Chà Chí-Pờ Cố Luyện có với nhau 12 người con, nhưng chỉ nuôi được 6, trong số đó lại có hai người không may chết sớm (một người 18 tuổi, một người 30 tuổi). Vậy là sinh nhiều nhưng hiện tại chỉ có 4 người con. Cậu út tên là Hù Chà Cưới sinh năm 1987, cũng là một chiến sĩ biên phòng, xuất ngũ năm 2012, giờ làm công an viên ở xã Kan Hồ.

Ông Hù Chà Chí sau khi xuất ngũ năm 1973 trở về địa phương và được giao trọng trách Chủ nhiệm Hợp tác xã Kan Hồ. Thời điểm này, bản Nậm Hà vẫn còn ở bên kia bờ sông Đà, cuộc sống tương đối cô lập, nhưng nhờ có sự năng động, nhiệt tình của ông nên hợp tác xã đã có thời gian phát triển ổn định. Sau khi nghỉ hưu, ông tham gia khá nhiều hội như: Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Hội Khuyến nông. Ông cũng được coi là già làng của bản Nậm Hà, tiếng nói của ông đã góp phần xây dựng tình đoàn kết của nhân dân địa phương.

Si La là một trong 5 dân tộc có số lượng người ít nhất Việt Nam (dưới 1.000 người, theo thống kê dân số năm 2009), phân bố chủ yếu ở xã Kan Hồ, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, ngoài ra cộng đồng người Si La còn một nhóm nhỏ sinh sống bên Lào. Dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, dân tộc Si La luôn có những người con ưu tú chung tay, góp sức cùng cộng đồng các dân tộc Việt Nam kháng chiến, kiến quốc, xây dựng quê hương giàu đẹp.

Bài và ảnh: ĐÔNG PHONG