Lên nương lúa mới

Buổi sớm, khi sương trắng còn phủ mịt mù đỉnh Pha Lát, bản Đoàn Kết đã rất vắng vẻ. Trong bản chủ yếu là người già và trẻ nhỏ. Hỏi thăm, được biết mùa thu hoạch ở đây kéo rất dài, từ tháng 10 trở ra đến Tết Nguyên đán. Thế nên, người Khơ Mú mới có câu “Gặt lúa cả năm, ăn ba tháng”. Quanh bản, những quả núi sừng sững bao bọc. Một màu rừng xanh ngắt điểm xuyết thêm những nương lúa vàng trên lưng chừng núi tạo nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp.

Bắt gặp vẻ hoan hỉ của người khách mới đến, Thượng úy QNCN Nguyễn Văn Tuấn, Tổ công tác Biên phòng bản Đoàn Kết cười hiền, không giấu nỗi băn khoăn: “Ở đây cảnh sắc thiên nhiên rất đẹp, nhưng cuộc sống của đồng bào còn nghèo lắm”. Rồi chỉ về những nương lúa đang chín vàng óng ả, anh Tuấn bảo: “Nhìn thì gần như vậy, nhưng từ đây lên tới nương lúa gần nhất, lội suối, trèo non cũng phải đi mất nửa ngày đường. Muốn hiểu được dân bản thì mọi người phải lên nương!”. Anh nói nửa như mời gọi, nửa như khiêu khích những người khách trèo lên.

leftcenterrightdel
Người dân bản Đoàn Kết, xã Tén Tằn, huyện Mường Lát gặt lúa ở nương nhà anh Dương Văn Quỳnh. 

Nương nhà anh Dương Văn Quỳnh cách bản khoảng 7km, là điểm gần nhất. Hôm nay, có gần 30 người đang tập trung gặt lúa ở đó. Mọi người dàn thành hàng ngang, cắt theo lối. Người Khơ Mú vẫn giữ lối thu hoạch từ thuở xa xưa, cắt từng bông một. Công cụ thu hoạch là một chiếc kẹp gỗ gắn miếng thép nhỏ bằng chiếc lá tre. Sau phút ngỡ ngàng khi thấy có khách lên tận nương xem lúa, những người thợ gặt vui vẻ chào mời. Họ quên cả việc gặt để hướng dẫn khách cách cầm nẹp gặt. Thật “trăm hay không bằng tay quen”. Mấy chị Khơ Mú miệng nói, tay gặt thoăn thoắt. Còn khách thì lóng ngóng mãi, "tháng 5 một cọng, tháng 10 vài bông"... Lúa được bó thành từng túm gác lên giá tre để không bị nảy mầm, giáp Tết mới được đem về.

Phía xa, tại chòi canh, thầy mo Dương Văn Ban đang cúng lúa mới. Lễ vật có một con vịt luộc và cút rượu trắng. Khách phải đợi gần một tiếng đồng hồ, thầy mo mới cúng xong để có thể chuyện trò. Ông Ban kể, cúng lúa mới là nét văn hóa lâu đời của người Khơ Mú. Qua lễ cúng, gia chủ bày tỏ sự biết ơn tổ tiên, công sinh thành của cha mẹ, nhắc nhở mọi người quý trọng sức lao động và sống đúng đạo lý. Lời văn khấn khá mộc mạc: “Lúa gạo đã đến, cá đã có, mời ông bà, tổ tiên về xơi trầu, ăn cơm mới. Tay trái vê nắm cơm dẻo, tay phải cầm đũa gắp đồ ăn con cháu trồng ở đầu ruộng, đầu mương, trồng ở đầu bản…”. Theo ông Ban, trước đây người ta cúng cả một con bò, hoặc một con lợn, phải mất đến một ngày, nhưng bây giờ được cán bộ tuyên truyền, tập tục đó đã thay đổi. Vật phẩm đơn giản hơn rất nhiều, đỡ tốn kém cho gia chủ.

Nhìn thầy mo Ban say sưa kể về việc người Khơ Mú hủy bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, chúng tôi bỗng "giải mã" được nụ cười còn xen lẫn nỗi băn khoăn của Thượng úy QNCN Nguyễn Văn Tuấn. Đúng là, đồng bào ở đây đã tiến những bước rất dài trên con đường xây dựng cuộc sống mới. Nhưng cuộc sống vẫn nặng về tự cung, tự cấp, năng suất thấp, hủ tục mới giảm chứ chưa hết lạc hậu, ngay cả những bản được thiên nhiên ưu đãi; cấp ủy, chính quyền ưu ái hỗ trợ như Đoàn Kết vẫn chưa thực sự bước vào con đường vươn tới ấm no, giàu mạnh.

Đường lên thoát nghèo

Tối đến, bên bếp lửa trên nhà sàn, chúng tôi ngồi nghe thầy mo Ban kể chuyện. Ở nơi heo hút cổng Trời này, đồng bào Mông, Thái, Khơ Mú... phân đất, lập bản, nhìn nhau mà sống đã bao đời. Đến nay thời tiết, khí hậu biến đổi, rừng ngày càng nghèo, người ngày càng đông, không thể sống mãi với tư duy, cách làm ăn cũ. Điều đó, đồng bào biết. Nhưng từ lâu lắm rồi, nhiều gia đình vẫn nghĩ cán bộ và bộ đội phải "nghĩ" hộ đồng bào việc đó. Dấu ấn của bộ đội trên mảnh đất này lớn lắm. Trước đây, người Khơ Mú ở bản Đoàn Kết bị chia cắt với trung tâm xã bằng con suối Phải, muốn xin cái giấy khai sinh cũng phải đi cả ngày đường mới tới. Mưa bão, lũ lụt lại kéo nhau lên bản La Phay chật chội. Lợn gà nuôi dưới gầm sàn nhà, bẩn thỉu, hôi thối, dịch bệnh hoành hành...

leftcenterrightdel
Quang cảnh bản Đoàn Kết của người Khơ Mú ở xã Tén Tằn, huyện Mường Lát. 

Nét mới dễ nhận thấy nhất ở đây là từ khi bộ đội ở Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 5 đầu tư xây dựng cây cầu treo bắc qua sông Mã nối liền bản Đoàn Kết với Tỉnh lộ 520. Con đường đã mang hơi thở cuộc sống hiện đại đến với dân bản. Đầu tiên là điện thắp sáng, rồi con đường bê tông mới được khánh thành đầu năm 2017… Tuy nhiên, đó chỉ là sự thay đổi bước đầu về hạ tầng, còn để đồng bào thay đổi tư duy thì vẫn là hành trình gian nan phía trước.

Người trăn trở nhiều nhất về điều này ở Đoàn Kết là Trưởng bản kiêm Bí thư Chi bộ bản Lò Văn Phòng. Theo anh Phòng, người Khơ Mú có tiếng nói nhưng không có chữ viết, từ xưa đến nay vốn đã kém trong khoản giao lưu, tiếp thu cái mới. Trước đây địa hình chia cắt, mỗi bản như một "vương quốc" sống thu mình, khép kín dưới đại ngàn. Thành thử, đời nọ truyền đời kia, tập quán canh tác không hề thay đổi. Bao biện pháp tuyên truyền, vận động, khuyến khích của cấp ủy, chính quyền địa phương và Bộ đội Biên phòng không làm chuyển biến tư duy của đồng bào. Vừa rồi, tỉnh tổ chức cho 25 người trong bản đi tham quan cuộc sống bản làng người Khơ Mú đổi mới ở tỉnh Nghệ An. Trên đường về, ai cũng tâm tư... Cũng là người Khơ Mú, cũng rừng, cũng núi, có khi chẳng màu mỡ bằng nương rẫy Tén Tằn, nhưng cuộc sống của đồng bào nơi đó khấm khá hơn biết bao nhiêu, số hộ nghèo chỉ còn rất ít. Mấy người già ao ước: "Giá đến lúc tao chết, bản Đoàn Kết chúng mình cũng được như vậy thì vui biết bao". Mơ đấy, cũng biết "tự ái" đấy, nhưng rồi về bàn chuyện xây nhà vệ sinh theo hướng dẫn của Bộ đội Biên phòng thì vẫn chưa có nhà nào làm. Việc xây nhà tắm cũng vậy, cả bản đã quen dùng chung 7 bể chứa nước. Mùa hè cũng như mùa đông, cả trai lẫn gái vẫn tắm chung… Những việc nhỏ bé để xây dựng bản văn hóa mà đã khó làm như vậy, bao giờ Đoàn Kết mới xứng với cái tên bản đầy ý nghĩa!

Suốt đêm trò chuyện cùng thầy mo Ban và Trưởng bản Phòng, Thượng úy QNCN Nguyễn Văn Tuấn chỉ nghe chứ không nói gì nhiều. Sáng hôm sau, anh đánh thức chúng tôi rủ đi tưới rau. "Vườn rau đầu tiên ở bản đấy", anh Tuấn nói, mắt lấp lánh niềm vui. Vừa xới đất, anh vừa chia sẻ: "Đồng bào ở đây không biết trồng rau, nguồn rau xanh phụ thuộc vào rau rừng". Kinh nghiệm của Bộ đội Biên phòng là người dân chỉ tin khi tận mắt nhìn thấy các mô hình. Cho nên, chỉ huy đồn quyết định khai hoang, làm một vườn rau thật lớn. Chỉ mấy tháng sau, bộ đội đã có vườn rau xanh mướt, dân bản kéo nhau đến tham quan, học hỏi kinh nghiệm. Lần lượt hộ anh Lương Văn Tén, Lò Văn Hà trồng được rau ăn. Giờ thì khá nhiều nhà trong bản đã có những vườn rau nho nhỏ. Nhiều loại rau hợp đất, dễ trồng, dễ thu hoạch. Một mai giao thông thuận tiện, chắc chắn sẽ có nhà trồng rau hàng hóa. Từ hiệu quả của mô hình vườn rau, Đồn Biên phòng Trung Lý đang tiếp tục hướng dẫn, thuyết phục bà con dựng hàng rào nuôi gà, đóng chuồng nuôi nhốt trâu, bò, lợn...

Anh Lương Văn Hứa phấn khởi khoe với chúng tôi cái chuồng lợn gia đình anh làm theo hướng dẫn của bộ đội (khách thì gọi là chuồng, nhưng nhất định anh gọi là nhà). Chuồng lợn được đóng bằng cọc tre, lợp mái lá, chia làm ba ngăn, gồm: Ngăn riêng cho lợn mẹ, lợn con và lợn nhỡ. Đây cũng là chuồng lợn đầu tiên của bản, đánh dấu một sự thay đổi lớn trong nhận thức. Anh Hứa chia sẻ: “Mình phải bàn rất nhiều với vợ và mọi người trong nhà. Nuôi nhốt lợn vừa mau lớn, lại không bị mất vệ sinh. Sau khi làm xong, mình cũng vận động mọi người làm giống mình”.

Khách chủ hợp ý, từ chuyện cái chuồng lợn lại lan sang chuyện ngày xửa, ngày xưa. Anh Hứa kể, dăm năm trở về trước, vùng này hay bị lũ quét tràn qua. Nhà cửa, gia súc, cả người cũng bị nước lũ cuốn trôi. Lũ ở Tén Tằn đổ xuống, cả huyện Mường Lát tức khắc bị chia cắt. Chuyện xảy ra đã lâu, nhưng mãi gần đây đồng bào mới đồng ý cho rằng, nguyên nhân do nạn phá rừng, dẫn đến sạt lở núi, nước tích tụ thành những hồ nước, khi vỡ ra tạo nên lũ quét. Theo kiểm kê của lực lượng kiểm lâm huyện Mường Lát, năm 2016, bản Đoàn Kết trồng mới được 30ha rừng. Tính đến tháng 10-2017, con số này đã lên đến 50ha. Dân bản hầu hết đã thấy được hậu quả của nạn phá rừng, nhiều nhà đã tích cực trồng rừng và chuyển đổi phương thức canh tác...

Theo hướng tay anh Hứa chỉ, tôi nhìn lên triền núi Pha Lát với những cánh rừng mới trồng bát ngát một màu xanh non của các loài cây lấy gỗ, lòng bất chợt tự hỏi tại sao mảnh đất hùng vĩ này lại nhiều địa danh có từ "Lát" đến vậy. Thượng úy QNCN Nguyễn Văn Tuấn cho hay, người dân địa phương gọi "Mường Lát" không phải vì nơi đây từng có rất nhiều gỗ lát như mọi người vẫn nghĩ. Chữ "Lát" trong tiếng Thái có nghĩa là “nơi nước tràn qua”, đánh dấu niềm tự hào của người dân về vị trí có dòng sông Mã trở về đất Việt. Vì thế, tên bản, tên núi, tên sông, tên suối có nhiều chữ "Lát" đến vậy. Mảnh đất này cũng từng là "mường" lớn nhất vùng nên người ta lấy từ tên bản này làm tên chung cho huyện. Còn một cách lý giải trong dân gian cho rằng, "Lát" là chữ "Lạt" của người Thái cổ-nghĩa là "nơi tập trung buôn bán sầm uất ở trên cao". Từng ấy câu chuyện chứng tỏ rằng, khát vọng xây dựng quê hương trở thành vùng đất giàu có, sầm uất đã xuất hiện từ rất lâu. Gần đây, điều đó như đang thức dậy cùng những hoạt động kiên trì, bền bỉ của Bộ đội Biên phòng...

Nhưng có lẽ, cổng Trời Mường Lát cần rất nhiều những Lương Văn Hứa, Lò Văn Phòng hay Vàng A Sùng... Bởi chính họ, những người sinh ra, lớn lên và sẽ sống cả đời ở cổng Trời, mới đích thị là người có thể làm thay đổi cuộc sống của đồng bào nơi đây. Vì chỉ các anh mới có thể đánh thức khát vọng đại ngàn trong làng bản của mình!

 Bài và ảnh: VĂN TUẤN - LÊ GẤM