Có lẽ, bộ quần áo phòng da đã phần nào nói lên được tính chất hoạt động gian khổ của các chiến sĩ hóa học trong môi trường hóa chất. Đầu năm mới, chúng tôi có chuyến xông đất tới Viện Hóa học Môi trường quân sự (Binh chủng Hóa học) để nghe các anh kể chuyện. Câu chuyện về những giờ phút nín lặng đến vã mồ hôi trong phòng thí nghiệm, hay những ngày tháng mất ăn mất ngủ ngoài thực địa khi xử lý chất độc dioxin... đã cuốn hút chúng tôi.

Khuất phục vi khuẩn gây bệnh than

Sau cuộc họp Hội đồng Khoa học viện căng thẳng, Trung tá, TS Nguyễn Khánh Hưng, Quyền Viện trưởng Viện Hóa học Môi trường quân sự, có cuộc trò chuyện với chúng tôi. Anh chia sẻ: “Ngoài nhiệm vụ nghiên cứu, viện còn tiên phong xử lý hiệu quả các sự cố, thảm họa về hóa chất độc-xạ, ô nhiễm môi trường; tham gia cứu hộ, cứu nạn trong các tình huống sập hầm lò, giếng sâu có khí độc...; quan trắc, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường, đề xuất giải pháp ứng phó kịp thời với tinh thần tất cả vì sự an toàn và cuộc sống bình yên của nhân dân”. Suốt những năm qua, trên từng lĩnh vực đều có rất nhiều tấm gương tiêu biểu, câu chuyện thấm đẫm sự hy sinh, cống hiến của cán bộ, chiến sĩ nơi đây.

Theo giới thiệu của anh Hưng, người đầu tiên chúng tôi tìm gặp là Đại úy, TS Nguyễn Phượng Minh, Phó trưởng phòng Sinh học, người vừa được đón nhận niềm vui kép, giải nhất tuổi trẻ sáng tạo toàn quân năm 2018 với đề tài Nghiên cứu sản xuất protein tái tổ hợp vi khuẩn Racillus antracis gây bệnh than và giải ba Cuộc thi VIFOTEC với đề tài Nghiên cứu chế tạo Test phát hiện độc tố Ricin trong môi trường. “Vi khuẩn gây bệnh than là một loại vi khuẩn cực kỳ nguy hiểm. Hiếm khi được sử dụng. Vậy tại sao anh chọn nghiên cứu về loại vi khuẩn này?”, chúng tôi mở đầu câu chuyện. “Thực tế đây là loại vi khuẩn chủ yếu dùng trong mục đích quân sự, ít người nghiên cứu nên vấn đề bảo mật thông tin rất cao. Tuy nhiên, trong các cuộc chiến tranh trên thế giới, vi khuẩn gây bệnh than đã được sử dụng. Không loại trừ trường hợp đặc biệt trong tương lai loại vi khuẩn này vẫn có thể được các thế lực thù địch sử dụng, chính từ suy nghĩ đó đã thôi thúc tôi tìm đến đề tài. Và đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam chế tạo được Test phát hiện nhanh loại vi khuẩn này”, anh Minh chia sẻ.

Để giúp chúng tôi hiểu thêm về quy trình chế tạo Test, anh Minh dẫn chúng tôi đến phòng thí nghiệm. Trong căn phòng nhỏ thoang thoảng mùi hóa chất, các loại máy đang chạy rì rì, Đại úy, Thạc sĩ Công nghệ Sinh học Nguyễn Thị Thu Hà đang mải mê với những ống nghiệm. Chia sẻ với chúng tôi, chị Hà cho biết, buổi ban đầu tiếp xúc với loại vi khuẩn tối nguy hiểm, một chút sơ sểnh có thể gây ảnh hưởng đến tính mạng khiến chị ít nhiều băn khoăn, nhưng khi được anh Minh tận tình giải thích, hướng dẫn, chị đã yên tâm hơn. Thoạt nhìn công việc nghiên cứu, thí nghiệm âm thầm, lặp đi lặp lại đến nhàm chán nhưng đó là quá trình làm việc liên tục, căng thẳng, tập trung cao độ. Công việc này làm chị không nhớ nổi biết bao nhiêu lần hóa chất ăn mòn hết dấu vân tay, dù đã mang, đeo các loại thiết bị phòng hộ. Ánh mắt chia sẻ nhìn đồng nghiệp, anh Minh cho biết, có những thí nghiệm phải thực hiện lại rất nhiều lần, có thí nghiệm phải mất nhiều thời gian mới cho kết quả. Đó là những ngày nhóm đề tài cùng nhau thức trắng. “Có ngày anh em quên ăn, quên ngủ vì mong chờ kết quả và có lẽ điều đó trở thành bệnh lãng đãng của người làm khoa học”, anh Minh hóm hỉnh cho biết. Nụ cười của anh làm chúng tôi liên tưởng tới những điều dường như đã “đóng khung” vào suy nghĩ bấy lâu là “làm khoa học thường đơn điệu và khô cứng”, nhưng sau khi tiếp xúc với điều kiện làm việc, công việc cụ thể của anh Minh và các cộng sự, chúng tôi lại thấy đó là đam mê, nhiệt huyết. Nói như mọi người ở đây, “yêu thích từng dụng cụ phân tích, ống nghiệm, hóa chất và công việc tìm tòi nghiên cứu đã ngấm vào máu, vào huyết quản của từng người”. Dù vất vả, nguy hiểm nhưng không ai có ý định chuyển ngành.

Trước đây, anh Minh tốt nghiệp Học viện Khoa học và Công nghệ (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Sau khi ra trường, anh về công tác tại huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội. Qua tìm hiểu, anh được biết, Binh chủng Hóa học có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu phương pháp phòng, chống tác nhân sinh học. Biết nơi đây là môi trường tốt, phát triển được sở trường, năm 2007, anh đã nộp đơn xin về Binh chủng Hóa học công tác. Anh Minh cho biết: “Ngay từ ngày đầu bỡ ngỡ, tôi đã được cấp trên định hướng nghiên cứu mảng sinh học”. Đây là một mảng khó, trong điều kiện tài liệu rất ít, mẫu và nguyên liệu hiếm. Có không ít ánh mắt băn khoăn, e ngại khi Minh quyết tâm dấn thân nghiên cứu mảng đề tài này. Vì trong tiềm thức, mọi người đều lo sợ không may, một chút sơ sểnh có thể đánh đổi bằng cả tính mạng. Nhưng càng khó khăn, Minh càng quyết tâm, anh liên hệ với những chuyên gia hàng đầu của cả nước như Đại tá, PGS, TS Nguyễn Khắc Lực, Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng và Côn trùng, Học viện Quân y; PGS, TS Khuất Hữu Thanh và TS Lê Quang Hòa, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Ngoài ra, anh tìm kiếm thêm tài liệu nước ngoài ngày đêm nghiên cứu thêm. Để đạt được một thành công nhỏ, anh đã tốn biết bao sức lực, trí tuệ, tâm huyết và thời gian. Trước đây, muốn sản xuất Test phát hiện vi khuẩn gây bệnh than, chúng ta phải nhập ở nước ngoài với giá thành đắt đỏ 200 triệu đồng/gam. Giờ đây ta đã tự chủ được hoàn toàn về nguyên liệu. Nối tiếp thành công, anh Minh còn thành công trên vai trò Chủ nhiệm đề tài cấp Bộ Quốc phòng “Nghiên cứu, chế tạo Test phát hiện vi khuẩn dịch hạch”, một trong những vi khuẩn tối nguy hiểm.

Mong mỏi làm sạch môi trường

 Năm 2018, Viện Hóa học Môi trường quân sự không chỉ thành công với những đề tài sinh học mà còn đạt kết quả tốt trong công tác xử lý chất độc dioxin. Chúng tôi gặp Thiếu tá, TS Trần Đức Hùng, Phó viện trưởng Viện Hóa học Môi trường quân sự, khi anh vừa hoàn thành công việc đánh giá và giám sát công nghệ tẩy độc dioxin tại khu vực sân bay Đà Nẵng, do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ, giai đoạn 2 kéo dài từ năm 2012 đến năm 2018. Anh Hùng cho biết, trước đó, Binh chủng Hóa học đã tiến hành phương pháp chôn lấp, cô lập hàng trăm nghìn mét khối đất nhiễm tại các sân bay như Biên Hòa (Đồng Nai), Phù Cát (Bình Định). Tuy nhiên, phương pháp chôn lấp chưa thể giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm, vẫn có khả năng xảy ra nguy cơ nhiễm do chuột bọ đục khoét hoặc rễ cây đâm xuyên qua lớp chất liệu cô lập lớp đất nhiễm. Do vậy, khi nhận được đề nghị giúp đỡ của USAID xử lý triệt để vấn đề ô nhiễm, phía cơ quan chức năng Việt Nam rất hoan nghênh.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm sao để chúng ta có thể đánh giá và giám sát được công nghệ xử lý của đối tác. Anh Hùng chia sẻ: “Các loại máy móc của đối tác rất hiện đại, do vậy nhóm giám sát do tôi chủ trì cũng phải làm việc rất căng thẳng”. Trong 6 năm, nhóm có 6 người luân phiên nhau giám sát liên tục. Trước tiên, để giám sát phải hiểu về công nghệ nên ngoài việc thường xuyên có mặt tại thực địa, các cán bộ giám sát phải tranh thủ đọc, nghiên cứu tài liệu, chủ yếu là tài liệu nước ngoài. Thời gian dành cho công việc đọc tài liệu chủ yếu vào ban đêm. Tuy nhiên, việc nặng nề nhất là phải đánh giá được độ an toàn của chất thải. Anh Hùng nhớ lại kỷ niệm, trong giai đoạn xử lý đầu tiên, công nghệ xảy ra sự cố, nồng độ chất thải rắn và khí có hàm lượng dioxin vượt ngưỡng cho phép (0,6ng/m3; 1ng = 1/1.000.000.000g). Vì hàm lượng dioxin cho phép là vô cùng nhỏ nên ngay khi phát hiện, phía ta đã yêu cầu đối tác ngừng hệ thống xử lý, khoanh vùng từng khâu kiểm tra hỏng hóc, mặt khác lấy mẫu gửi ra nước ngoài để tiến hành xét nghiệm. “Trong hai tuần liền, hầu như các chuyên gia của chúng ta không ngủ, bởi đó là trách nhiệm với nghề, với sự an toàn của từng tấc đất và người dân”, anh Hùng cho biết thêm.

“Thường xuyên tiếp xúc với hóa chất độc hại, với hàm lượng rất nhỏ khó phát hiện bằng các giác quan bình thường, nhưng nếu đi vào cơ thể sẽ để lại di chứng khôn lường, thậm chí ảnh hưởng đến thế hệ mai sau, anh có lo lắng về điều này không?”, khi thấy chúng tôi băn khoăn như vậy, anh Hùng bảo rằng: “Lo lắng đặt ra yêu cầu chúng tôi cần phải cẩn thận, tỉ mỉ trong từng thao tác nhỏ nhất. Nhưng trên hết là tình yêu nghề, bởi niềm đam mê hóa học đã ngấm vào máu của chúng tôi từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Khi làm việc, chúng tôi ý thức được trách nhiệm lớn lao đối với sự bình yên của nhân dân và nhiệm vụ trả lại màu xanh cho đất nước”.

leftcenterrightdel
 

 

leftcenterrightdel
Bộ đội hóa học xử lý chất độc CS tồn lưu sau chiến tranh.

Trung tá, Thạc sĩ Đinh Văn Thức, Trưởng phòng Công nghệ xử lý môi trường, góp thêm câu chuyện: “Khi chúng tôi đi xử lý sự cố môi trường liên quan đến hóa chất độc xạ, thường người dân địa phương rất hoang mang, lo sợ. Lúc đó, vừa là chuyên gia khoa học, vừa là người lính, chúng tôi phải xung kích lên tuyến đầu thì người dân mới hưởng ứng làm theo”. Rồi anh Thức kể cho chúng tôi nghe câu chuyện xử lý chất độc CS tồn lưu sau chiến tranh ở tỉnh Đắc Nông và tỉnh Kon Tum, ban đầu người dân sợ hãi, sơ tán hết khỏi địa phương, nhưng khi thấy bộ đội hóa học nhiệt tình giúp dân xử lý chất độc, mọi người quay trở lại hỗ trợ lương thực, làm đường giúp bộ đội đi vào khu nhiễm. Ngày chia tay, già làng, trưởng bản đã khóc, quyến luyến cảm ơn các chiến sĩ hóa học.

Câu chuyện về cán bộ, chiến sĩ Viện Hóa học Môi trường quân sự còn dài. Trong năm 2018, hầu hết ở các điểm nóng sự cố môi trường trên cả nước đều có dấu chân của các anh. Nhiệm vụ nào cũng rất nặng nề, nguy hiểm, nhưng khi chúng tôi hỏi về mong ước của các anh trong năm mới, mọi người đều nói rằng, hiện nay, trên cả nước còn rất nhiều vùng đất bị ảnh hưởng bởi hóa chất và vũ khí hóa học trong chiến tranh. Mong mỏi lớn nhất của các anh là được cống hiến hết mình để trả lại sự trong sạch cho môi trường quê hương.

Bài và ảnh: PHẠM VĂN TUẤN