Dấu ấn Ka Đô

Nếu không có mạng xã hội kết nối, có lẽ cái duyên để chúng tôi hội ngộ vẫn còn là điều xa xỉ. Hơn một phần tư thế kỷ trôi qua, đồng đội nhập ngũ cùng ngày, huấn luyện cùng đơn vị, học hạ sĩ quan cùng lớp ở Tiểu đoàn 512, Trường Quân chính Tổng cục Hậu cần năm 1992… mỗi người mỗi ngả. Biết được thông tin của ai đó, dù bằng cách nào cũng trân quý lắm. Thế rồi cũng phải mất hơn 3 năm kể từ ngày kết nối thông tin với nhiều lần hứa hẹn, đến mùa mưa năm nay tôi mới có chuyến hành trình từ TP Hồ Chí Minh ngược cao nguyên thăm bạn. Hùng-Trung tá Nguyễn Xuân Hùng-bạn đồng ngũ ngày ấy giờ là Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Đơn Dương. Niềm vui nhân đôi khi biết, Chính trị viên Ban CHQS huyện Đơn Dương-Thượng tá Tống Xuân Thu lại là bạn đồng môn của tôi ở Trường Sĩ quan Chính trị, khóa 1992-1996. Cuộc hội ngộ của những người bạn cũ thực là “song hỉ lâm môn”. Doanh trại của đơn vị nơi Hùng và Thu làm lãnh đạo, chỉ huy là những dãy nhà cấp 4, giản đơn như chính cuộc sống của đồng bào nơi thung lũng này.

leftcenterrightdel
Tác giả (bên phải) gặp lại Tống Xuân Thu (giữa) và Nguyễn Xuân Hùng sau nhiều năm xa cách

Không còn một thằng Hùng thư sinh, da trắng như da con gái, học giỏi, gương mẫu của lớp hạ sĩ quan năm nào, người chỉ huy lực lượng vũ trang huyện Đơn Dương bây giờ mang dáng dấp của một “già làng” chính hiệu. Da sạm đen, gương mặt nhăn nheo, người gầy thó. Thoạt nhìn chắc ai cũng nghĩ, tướng mạo thế này hẳn là người khắc khổ? 26 năm rồi, tính cách Hùng bây giờ rổn rảng, ào ào như nước suối, thẳng tưng như cây rừng giữa đại ngàn. Chưa cạn chén trà, Hùng đã “quẳng” tôi lên chiếc xe đỏ quạch bùn đất bazan:  “Tối nay tôi mới dành cho ông! Còn bây giờ ông phải dành cho tôi trước đã!”. Hùng cầm lái. Chiếc xe 4 chỗ chạy phè phè trên con đường lởm chởm ổ gà hướng về chân núi Ka Đô. Ngồi trên xe Hùng, có cảm giác mọi thứ đều phát ra tiếng kêu, chỉ mỗi thứ nằm bất động là cái… máy lạnh. Vừa lái xe, Hùng vừa “phổ biến nhiệm vụ”:

      - Tụi tôi mới làm xong căn nhà đồng đội. Nhà này có cậu con trai đang làm nghĩa vụ quân sự ở Quân khu 7. Người mẹ sống một mình trong căn nhà tồi tàn, hàng ngày đi làm mướn kiếm sống. Hôm bữa đi dân vận, tụi tôi phát hiện và đề xuất lãnh đạo địa phương xin chủ trương. Anh em cán bộ và đơn vị góp lại, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện và chính quyền xã làm căn nhà ngót nghét dăm chục triệu.

Chủ nhà là bà Đoàn Thị Gái, vợ của một cựu chiến binh vừa từ trần năm ngoái vì bệnh hiểm nghèo, ngụ ở thôn Nghĩa Hiệp, xã Ka Đô. Thời thanh xuân, bà Gái tham gia hoạt động thanh niên xung phong phục vụ kháng chiến. Lo cho chồng chống chọi với bạo bệnh nhiều năm, bà Gái đã nghèo càng thêm khó khăn.

Đang chạy như bò trên con đường gồ ghề, Hùng đánh vô lăng cho xe ngoặt sang tuyến đường ngon trớn rồi dừng bánh trước cửa hàng vật liệu xây dựng dưới tòa nhà cao tầng, xuống xe. Một lát sau, Hùng trở lại với nụ cười như lão nông sau vụ gặt bội thu:

      - Xong rồi!

      - Cái gì xong? -Tôi hỏi.

      - Mới xin được cho bà Gái bộ chăn, ga, gối, nệm và mấy thứ đồ dùng. Hôm nay chắc chắn các cơ quan đoàn thể địa phương cũng sẽ tặng thêm đồ gia dụng.

Thì ra là Hùng đi xin. Xin của những hộ có điều kiện để san sẻ với những người hoàn cảnh khó khăn. Văn hóa buôn làng cao nguyên giản dị là thế. Sự san sẻ đến với nhau từ tấm lòng chứ không cần thủ tục rườm rà.

Căn nhà bà Gái nằm trên mé đồi. Xung quanh bạt ngàn vườn rau canh tác theo kiểu nhà kính, nhà lưới. Mênh mông là thế nhưng toàn đất của người ta, bà Gái chỉ có mỗi mảnh vườn chừng mươi thước đất.

Chúng tôi vừa đến nơi thì những tảng mây khổng lồ kèm sấm chớp tựa bầy ngựa hoang hí vang tung vó từ những dãy núi phía tây tràn về thung lũng Ka Đô. Hùng hối thúc các chiến sĩ khẩn trương mời khách vào vị trí rồi nắm tay tôi lôi xềnh xệch ra giàn hoa giấy trước ngõ:

      - Ông cầm cái này!

      Tôi giật phắt khỏi tay Hùng:

      - Ông không thể làm thế. Tôi không có quà mang lên cho ông thì thôi, sao ông lại đưa phong bì cho tôi?

      Hùng xua tay:

      - Ông cầm, lát lên tặng cho chủ nhà!

Nhìn cái phong bì đã ghi sẵn họ tên, cấp bậc, chức vụ của tôi trên dòng “Kính tặng gia đình chị Đoàn Thị Gái” với nét chữ quen thuộc từ 27 năm trước, sống mũi tôi cay cay, còn Hùng thì cười, gương mặt sạm nắng già trước tuổi, chẳng cho tôi cơ hội phản ứng…

leftcenterrightdel
Bàn giao nhà đồng đội cho gia đình bà Đoàn Thị Gái

Suối trăm dòng cũng một hướng sông…

Đất trời cao nguyên phóng đãng. Nắng đó, mưa đó, gió mây, sương khói cứ xoắn xuýt chân người. Mỗi tên huyện là ngôn ngữ thông dụng, còn thì tên các buôn, thôn, núi, đồi, sông, suối và tất nhiên là cả tên người, cũng đậm sắc màu đại ngàn. Ngay như đồng đội giúp việc cho Tống Xuân Thu, Chính trị viên phó Ban CHQS huyện, cũng mang cái tên đầy bản sắc núi rừng: Tou Prong Dạ Nhân.

Cao nguyên ngày nắng gắt nhưng về đêm trở lạnh căm căm. Và đây mới là lúc Hùng và Thu dành cho tôi. Ngồi bên ché rượu cần hứng sao trời đại ngàn, Tống Xuân Thu nói về lịch sử, văn hóa vùng đất này một cách ngon trớn. Giọng Thu giờ cũng rổn rảng như con suối mùa mưa đổ về hồ P’rô trên cao nguyên Lang Biang, chả còn là cái thằng Thu toát mồ hôi hột mỗi lần thi vấn đáp năm nào. Thu bảo, vùng đất này thế kỷ XIX là địa bàn cư trú của các tộc người Thượng. Người Kinh đầu tiên có ý định khám phá vùng này là hiền nhân Nguyễn Thông, nhưng chưa kịp thực hiện ý định thì ông đã qua đời. Sau đó, người Pháp, do bác sĩ hải quân Paul Néis và Trung úy Albert Septans đã thực hiện cuộc thám hiểm đầu tiên vào giai đoạn 1880-1881. Họ được sử sách ghi là những nhà thám hiểm đầu tiên khám phá cao nguyên Lang Biang. Hành trình của Paul Néis và Albert Septans mở đường cho nhiều chuyến đi khác của các quan chức quân đội Pháp. Những con đường đầu tiên kết nối cao nguyên Lang Biang với các vùng đồng bằng Nam Bộ và Nam Trung Bộ do người Pháp xây dựng dần hình thành. Nói như vậy để thấy, công cuộc mở mang, khai phá văn minh ở vùng đất này trễ hơn những vùng khác. Cái chất của đại ngàn sơn cước, đặc trưng là thật thà, tốt bụng, vô tư, phóng khoáng… là bản sắc cuộc sống của đồng bào nơi đây. Đến nay, Đơn Dương vẫn là huyện thuần nông, đời sống của đại bộ phận nhân dân mới ở mức thoát nghèo. Sản phẩm chủ lực là rau và hoa màu. Mô hình trồng rau sạch công nghệ cao đang được áp dụng nhân rộng, cung ứng sản phẩm cho thị trường TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ.

Các cụ ta xưa dạy quả không sai “Nhập gia tùy tục”. Những ngày cùng đồng đội ở Đơn Dương, tôi chiêm nghiệm sâu sắc thêm những bài học từ cuộc sống. Nhiệm vụ của Bộ đội Cụ Hồ ở đâu cũng phải tuân thủ điều lệnh, điều lệ, chung kỷ luật “sắt”, tự giác, nghiêm minh. Nhưng cách làm thì khác. Tìm con đường, ngõ ngách để đi vào lòng dân và để hình ảnh cán bộ, đảng viên, Bộ đội Cụ Hồ trú ngụ trong đó lâu dài, đòi hỏi cán bộ phải sống gần dân, sống như dân và sống cho dân. Bài học của đồng đội ở Đơn Dương, nơi sinh sống của đồng bào nhiều dân tộc thiểu số với những nét đặc trưng của phong tục tập quán lâu đời, không chỉ cùng ăn, cùng ở, cùng làm mà còn phải biết cùng suy nghĩ, cùng chung nỗi vất vả với dân. Mọi sự giúp đỡ, chia sẻ phải thực tâm. Nếu vì lý do nào đó mà làm qua loa đại khái, hoặc “diễn” là không trụ ở đây được. Đơn cử như chuyện cán bộ đi vận động các nguồn lực xã hội, nói nôm na là đi xin của dân để lo cho dân, cũng phải có cách ứng xử quảng đại. Cách đi xin của Hùng cũng rổn rảng như cách sống của đồng bào. Đặt vấn đề rồi đưa địa chỉ thiện nguyện, người cho tự mang đến trao trực tiếp cho chủ nhà. Cán bộ không trực tiếp cầm tài sản, tiền bạc. Cái cớ để xin cũng rất đơn giản. Gặp chủ doanh nghiệp trong một sự kiện, biết họ kinh doanh vật liệu xây dựng, Hùng mở lời luôn. Sau một cái bắt tay là “OK” ngay. Cả chục năm nay rồi, cả trăm lần như vậy rồi chứ chả riêng chuyện tôi chứng kiến hôm nay. Và để người dân ủng hộ thì mình phải làm trước. Bữa đi vận động quyên góp xây nhà cho bà Gái, Hùng vào lò gạch dưới chân núi gọi ngay 5.000 viên gạch loại 1, bảo chủ lò gạch chở đến đổ trong vườn bà Gái. “Ông bộ đội này chơi được à nhen. Ổng làm vậy, mình là người địa phương, bà con làng xóm với nhau, ngồi im coi sao được?”. Thế là người ít người nhiều, tùy tâm, tùy khả năng, chỉ một thời gian ngắn đã gom đầy đủ kinh phí làm nhà. Hùng bàn với Thu và các đồng chí trong cấp ủy, chỉ huy, đưa cán bộ, chiến sĩ và dân quân địa phương đến tập trung mấy trăm ngày công hoàn thành sớm căn nhà có phòng khách, 2 phòng ngủ, bếp núc, công trình phụ đầy đủ. “Mình cứ sống thật tâm, làm thật tình. Mình làm cho dân chứ chả tư túi gì thì dân tin, dân ủng hộ thôi”-Hùng cảm thán rồi giục tôi làm “thủ tục” ngay với cái cần cắm trong ché rượu đã cong oằn như bông lúa đầu hè. 

Chủ tịch UBND huyện Đơn Dương Đinh Ngọc Hùng tôi gặp đợt này cũng là người trưởng thành, thử thách qua quân ngũ. Trước khi giữ cương vị người đứng đầu UBND huyện, anh đã có nhiều năm công tác trong quân đội, gắn bó với đồng bào vùng rừng núi ở nhiều địa phương. Thế nên, kiểu làm việc của anh cũng tiêu biểu cho phong cách gần dân, hiểu dân, vì dân. Mấy năm trước, khi nhận nhiệm vụ Chủ tịch UBND huyện, anh Hùng dành cái Tết đầu tiên về với dân. Đêm giao thừa, anh gọi cán bộ Ban CHQS huyện đi cùng. Anh chọn xã khó khăn nhất để đến xem dân mình ăn Tết thế nào? Xuống xã, cán bộ địa phương tính mời Chủ tịch huyện đến một số gia đình đã được sắp xếp trước, nhưng anh bảo, đưa anh đến hộ nào khó khăn nhất. Chứng kiến dân mình ngày Tết mà nhà cửa tuềnh toàng, ăn uống đạm bạc, Chủ tịch huyện chỉ đạo ngay việc hỗ trợ xây nhà, làm đường cho dân trong khu vực. Đấy! Làm công bộc của dân, không chỉ lo chủ trương, đường lối, giải pháp mà phải thực tế, sâu sát, cụ thể.

Cách làm thì phong phú, mỗi đối tượng, mỗi buôn, thôn, làng có một hình thức tiếp cận, nhưng tất cả đều chung hướng đi, mục tiêu là gắn kết mối quan hệ Đảng với dân, quân với dân và đồng bào các dân tộc với nhau dưới một mái nhà chung. Cao nguyên Lang Biang có hàng trăm con suối, hàng vạn ngọn khe, nhưng đều chảy chung một hướng về sông, xuôi biển cả…  

PHAN TÙNG SƠN