Đặc thù của đơn vị là đóng quân phân tán với rất nhiều tổ, trạm lẻ đứng cheo leo trên những sườn núi cao. Thế nhưng, từ khắp những điểm đứng chân lẻ loi đó lại “bung nở rực rỡ” những “bông hoa sáng kiến, cải tiến kỹ thuật” làm thế đứng của các tổ, trạm ngày thêm vững chắc.

Môi trường ươm mầm

Trong chuyến công tác tại Quân khu 4, chúng tôi quyết tâm tìm về Lữ đoàn Thông tin 80, nơi nổi tiếng là có nhiều “cây sáng kiến” giúp đơn vị tiết kiệm kinh phí, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đại tá Hoàng Minh Đức, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn Thông tin 80, đón chúng tôi với tất cả sự niềm nở, mến khách của những người lính thông tin vốn hay phải làm nhiệm vụ nơi heo hút. Anh tâm sự: “Sớm đón đầu được sự phát triển như vũ bão của CNTT, cũng như nhận thấy vai trò quan trọng, sự cần thiết, những tiện ích, tính hiệu quả của việc ứng dụng CNTT vào thực hiện nhiệm vụ, từ những năm 2000, Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn Thông tin 80 đã quan tâm, có chỉ đạo kịp thời cơ quan kỹ thuật và các đơn vị trực thuộc lập kế hoạch nghiên cứu tình hình thực tế việc bảo đảm TTLL, huấn luyện và quản lý, điều hành đơn vị, có phương án xây dựng cơ sở hạ tầng, ứng dụng CNTT vào thực hiện nhiệm vụ”. Bước đầu triển khai, lữ đoàn gặp không ít khó khăn do thiếu kinh phí, vật chất, cơ sở hạ tầng còn hạn chế nên chỉ huy lữ đoàn xác định phát huy sự sáng tạo của đội ngũ nhân viên kỹ thuật có trình độ, am hiểu chuyên sâu về CNTT là khâu đột phá, tạo phong trào thi đua sáng kiến, cải tiến kỹ thuật. Nhờ lòng đam mê, quyết tâm cao của cán bộ, nhân viên trong toàn lữ đoàn, cùng với sự quan tâm ủng hộ của Bộ tư lệnh Quân khu 4 và Bộ tư lệnh TTLL, lữ đoàn đã tìm tòi nghiên cứu, từng bước thiết lập hệ thống CNTT ứng dụng vào quản lý, chỉ huy, điều hành đơn vị cũng như bảo đảm TTLL thường xuyên và cơ động, phục vụ huấn luyện, diễn tập…”.

leftcenterrightdel
Thượng úy QNCN Đặng Văn Ký, Lữ đoàn Thông tin 80 miệt mài nghiên cứu sáng kiến.

Chúng tôi thực sự ấn tượng khi được thực mục sở thị những ứng dụng CNTT vào thực hiện nhiệm vụ của Lữ đoàn Thông tin 80. Với lòng đam mê trên cơ sở các loại máy móc, trang thiết bị hiện có, cán bộ, nhân viên lữ đoàn đã thiết lập được hai cơ sở hạ tầng CNTT hiện đại, độ bảo mật cao. Đó là hạ tầng CNTT cố định (bảo đảm cho việc quản lý chỉ huy, điều hành đơn vị và bảo đảm TTLL thường xuyên tại Tổng trạm Sở chỉ huy Quân khu) và hạ tầng CNTT cơ động (bảo đảm cho TTLL cơ động, phục vụ huấn luyện, diễn tập của đơn vị và phục vụ cho quân khu và các đơn vị tổ chức hội nghị trực tuyến, tập huấn, diễn tập).

Tới tham quan hệ thống CNTT của lữ đoàn, tận mắt chứng kiến hai hệ thống CNTT được trang bị đường truyền cáp quang tốc độ cao với tổng chiều dài gần 70km, đi kèm có 5 màn hình ti vi LED 55inch, gần 20 camera độ phân giải cao, 2 máy chủ cấu hình cao, tốc độ xử lý nhanh, dung lượng lớn, 5 bộ máy tính cùng hàng chục micro độ nhạy cao, phần mềm công nghệ mạng tiên tiến tích hợp nhiều tính năng và dễ mở rộng mạng khi cần thiết. Tất cả hình ảnh, âm thanh, dữ liệu được truyền qua hệ thống mạng LAN nên độ an toàn bảo mật rất cao. Hệ thống mạng LAN cố định được kết nối từ Sở chỉ huy Lữ đoàn tới 3 tiểu đoàn và Tổng trạm Thông tin Sở chỉ huy Quân khu với khoảng cách từ 5 đến 30km, hệ thống máy tính truyền nhận dữ liệu 24/24 giờ đáp ứng hiệu quả việc truyền tải thông tin từ Sở chỉ huy Quân khu tới các đầu mối, đồng thời giúp người chỉ huy xử lý, điều hành đơn vị nhanh chóng, kịp thời mọi tình huống.

Những sáng kiến hiệu quả cao

Trong những năm gần đây, Lữ đoàn Thông tin 80 luôn đạt kết quả đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhiều tập thể và cá nhân được Quân khu 4 và Bộ Quốc phòng khen thưởng. Thành công đó là sự nỗ lực phấn đấu của cả tập thể. Và trong “rừng hoa” đó có những cán bộ, nhân viên là “cây sáng kiến” xuất sắc.

Đến trạm sửa chữa của lữ đoàn, gặp Thượng úy QNCN Đặng Văn Ký, thợ sửa chữa vô tuyến điện khi anh đang tiến hành lắp đặt đồng loạt cải tiến mạch công suất cho toàn bộ điện đài XD-D18 được trang bị của đơn vị. Anh Ký cho biết, điện đài XD-D18 được trang bị rộng rãi trong toàn quân. Tại lữ đoàn, điện đài này sử dụng cho nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc cơ động bởi kích thước nhỏ gọn, nhẹ nhàng, dễ cơ động, khả năng liên lạc vững chắc, phù hợp với địa hình tác chiến. Tuy nhiên, máy thường xuyên bị hỏng đèn khuếch đại công suất, đặc biệt nếu làm việc trong điều kiện nắng nóng với thời gian lên máy dài, đèn lại càng dễ bị cháy. Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, anh tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục hiện tượng trên bằng cách cải tiến, thay thế một số loại linh kiện nhằm giảm bớt dòng cấp cho đèn khuếch đại công suất mà không làm ảnh hưởng tới cường độ, cự ly liên lạc. Qua lắp đặt thử nghiệm trên điện đài và đưa vào làm việc trong nhiều điều kiện thời tiết khác nhau với thời gian liên lạc dài, thực tế cho thấy cải tiến mạch khuếch đại công suất hoạt động rất hiệu quả, hiện tượng cháy đèn công suất không còn và cự ly liên lạc vẫn bảo đảm. Trước thành công đó, sáng kiến cải tiến mạch khuếch đại công suất điện đài XD-D18 của anh Ký được gửi lên quân khu tham gia cuộc thi “Giải thưởng Nguyễn Viết Xuân” và đoạt giải A.

Ngoài sáng kiến trên, anh Ký còn là tác giả của hàng loạt đề tài, sáng kiến khác. Tính từ sau khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan Chỉ huy kỹ thuật thông tin-Hệ Trung cấp kỹ thuật (năm 2006) về nhận công tác tại đơn vị đến nay, mỗi năm anh có một đề tài tham dự cuộc thi “Giải thưởng Nguyễn Viết Xuân” (do Quân khu 4 tổ chức) được Hội đồng khoa học đánh giá cao về khả năng ứng dụng và đều đoạt giải. Nổi bật có đề tài “Bộ nguồn cho máy VTĐ sóng ngắn thế hệ mới” và đề tài “Bộ điều khiển thu, phát trạm VTĐ” đoạt giải A; “Mô hình máy thu, phát VTĐ IC-700 PRO”,  “Mô hình máy thu, phát XD-D18” đoạt giải B.

Ở Lữ đoàn Thông tin 80, Thượng úy QNCN Nguyễn Văn Khoáng cũng được mọi người yêu mến và đặt biệt danh là Khoáng “sáng kiến”. Năm 2006, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Chỉ huy kỹ thuật thông tin (nay là Trường Đại học Thông tin liên lạc) hệ trung cấp chuyên ngành viễn thông-vô tuyến điện, Nguyễn Văn Khoáng được điều về Lữ đoàn Thông tin 80. Trên cương vị là thợ kỹ thuật vô tuyến điện, ngay từ những ngày đầu về nhận công tác, anh luôn tâm niệm phải cố gắng học tập, nghiên cứu, làm chủ mọi phương tiện thông tin. Ban đầu có chút bỡ ngỡ, dần dần anh đã từng bước làm chủ được các loại phương tiện thông tin của đơn vị và chứng tỏ được trình độ tay nghề. Tất cả các “pan bệnh” khó đều được anh giải mã nhanh chóng và xử lý kịp thời.

Không những thế, hằng ngày tiếp xúc với các thiết bị máy móc, anh còn “bắt mạch” nhiều loại phương tiện thông tin vì các lý do khác nhau mà hoạt động kém hiệu quả. Một trong số đó là hệ thống bàn trưởng ca cũ tại Tổng trạm Thông tin. Hệ thống cũ này thiết kế khá cồng kềnh, đường dây kết nối ma níp rất phức tạp, muốn chuyển đổi hệ thống phải thực hiện nhiều động tác dễ gây nhầm lẫn, dễ nhiễu giữa hai hệ thống, khi nhân viên phát ở tốc độ cao thường gây ra hiện tượng dính rơ-le, vì vậy việc bảo đảm TTLL gặp rất nhiều khó khăn. Sau nhiều ngày đêm trăn trở, tìm tòi nghiên cứu, anh đã có sáng kiến và lắp đặt thành công “Thiết bị phối hợp giữa tải báo và VT07” thay thế cho hệ thống bàn trưởng ca cũ.

Thiết bị phối hợp giữa tải báo và VT07 có ưu điểm là nhỏ gọn, thao tác đơn giản, hoạt động ổn định, vững chắc, khắc phục được những nhược điểm của hệ thống bàn trưởng ca cũ. Nhờ thao tác nhanh, đơn giản mà ca trưởng có nhiều thời gian hơn cho việc kiểm tra, duy trì kíp trực, xử lý các tình huống thông tin.

Cùng với sáng kiến trên, Thượng úy QNCN Nguyễn Văn Khoáng còn có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật khác mang tính ứng dụng cao, trong đó phải kể đến sáng kiến cải tiến “Chuyển mạch bộ lọc dải BPF máy ICOM-700TY, “Bộ điều khiển hội trường báo vụ” hiện đang được ứng dụng vào huấn luyện và bảo đảm TTLL tại Tổng trạm Sở chỉ huy Quân khu; sáng kiến “Bộ nạp nguồn bằng năng lượng mặt trời cho ắc quy máy VRU 812” sử dụng hiệu quả cho bảo đảm thông tin cơ động dài ngày tại vùng không có điện lưới... Ngoài ra, nhận thấy nhiều loại máy thông tin thế hệ mới chỉ đủ bảo đảm TTLL không để huấn luyện, anh đã tự mày mò, nghiên cứu “sản xuất” ra nhiều mô hình máy móc có hình thức bề ngoài giống và thực hiện được những thao tác với các chức năng, nguyên lý hoạt động như máy thật. Những chiếc máy mô hình này đã giúp cho những giờ huấn luyện của cán bộ, nhân viên đơn vị được trực quan hơn, bước vào bảo đảm TTLL thực tế không còn bỡ ngỡ, sai sót.

Những tổ, trạm lẻ thông tin đứng chênh vênh trên những sườn núi thực sự là nơi “nở hoa sáng kiến”. Đến đâu chúng tôi cũng được giới thiệu những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật mới. Đại tá, Lữ đoàn trưởng Hoàng Minh Đức chia sẻ thêm: “Đơn vị đóng quân phân tán kéo dài, đời sống, cơ sở vật chất của nhiều đơn vị còn khó khăn, nhiệm vụ bảo đảm thông tin cho Quân khu 4 nặng nề. Có những trạm thông tin đóng quân nơi đỉnh núi, mất vài giờ đi bộ mới lên tới nơi. Dẫu vậy, cán bộ, chiến sĩ đơn vị vẫn luôn chủ động phát huy tinh thần sáng tạo, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hoàn thành tốt nhiệm vụ. Mỗi năm, toàn lữ đoàn có đến hàng chục sáng kiến, cải tiến đưa vào ứng dụng đạt hiệu quả cao”.

Nghe anh Đức nói và trực tiếp xem những sáng kiến mà đơn vị đã làm thành công, chúng tôi rất khâm phục trí tuệ sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ lữ đoàn và tin tưởng rằng, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh khó khăn, các anh sẽ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Bài và ảnh: VĂN TUẤN - KỲ SƠN