Nỗi lòng người mở lớp

Trời chập choạng tối, mưa lạnh, Thiếu tá QNCN Lê Văn Thường, cán bộ Đồn Biên phòng Trung Lý, khoác vội chiếc áo mưa mỏng tới lớp học xóa mù chữ ở bản Khằm 1. Hơn 19 giờ, lớp học mới có lác đác vài học viên. Có người đi bộ vượt đèo dốc vài cây số, đến cửa lớp lại chần chừ không vào vì người bê bết bùn đất. Có người mang theo con nhỏ, đến lớp nhưng chỉ lo dỗ dành và... cho con bú. Thầy giáo đợi gần hai tiếng, sĩ số lớp học cũng chỉ đạt quá nửa, buổi học rồi cũng được bắt đầu.

Dù học viên vào lớp rải rác nhưng không khí buổi học vui tươi lạ thường. Thầy giáo không bắt đầu bằng dạy chữ, phép tính mà bắt đầu bằng những câu hỏi thăm, chuyện lên nương làm rẫy, chuyện gia đình con cái. Lớp học xóa mù chữ này được Trung tâm giáo dục cộng đồng, Hội Liên hiệp phụ nữ xã phối hợp với Đồn Biên phòng Trung Lý tổ chức. Những người thầy mang quân hàm xanh đều là kiêm nhiệm, ngày bám bản, đêm bám lớp, không có ai từng được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ sư phạm, cũng không có ai "được" làm việc chuyên trách. Học viên đa số là phụ nữ đã có gia đình bị tái mù chữ, đến từ bản Khằm 1 và Khằm 3. Tiếng là cùng một chữ Khằm nhưng địa hình hiểm trở, có người phải đi bộ ngót một giờ đồng hồ mới tới được lớp.

Theo thầy giáo Lê Văn Thường, mỗi lớp xóa mù chữ như thế này chỉ học trong ba tháng. Mục đích để người học biết đọc, biết viết, biết cộng, trừ, nhân, chia đơn giản như chi phí tiền điện, hoặc mua bán giao dịch hằng ngày… Ý nghĩa lớp học rất thiết thực với học viên nhưng việc vận động mọi người đi học vô cùng khó khăn, vì đa phần người học là chủ gia đình, công việc nương rẫy vất vả, tuổi cao, sức ỳ lớn.

leftcenterrightdel
Buổi lên lớp của Thiếu tá QNCN Lê Văn Thường tại lớp xóa mù chữ ở bản Khằm 1. 
Khằm 1 và Khằm 3 là bản người Mông. Hơn 90% hội viên phụ nữ bị tái mù chữ, không nói được tiếng phổ thông. Người dân nơi đây vẫn giữ quan niệm cái chữ không làm no cái bụng. Chỉ có chăm chỉ vào rừng tìm đất làm nương, nhặt nhạnh lâm sản mới có thể đem lại cuộc sống no ấm. Suy nghĩ đó đã ăn sâu, bám rễ vào đầu óc của từng người, không dễ gì thay đổi trong ngày một, ngày hai. Anh Thường tâm sự: “Đồng bào rất khái tính. Đến vận động đi học mà họ không ưng bụng sẽ không tiếp chuyện mà bỏ lên nương”. Nhưng phụ nữ Mông là những người rất nghe theo lời chồng. Nắm bắt tâm lý đó, những người thầy mang quân hàm xanh như anh Thường đã vận động những người đàn ông đồng ý cho vợ đến lớp. Khi thì tới nhà, lúc trên nương. Bất kể ban ngày hay buổi tối, bộ đội kiên trì tiếp cận, thuyết phục các ông chồng. Anh Thường kể, có lần đến nhà thấy hai vợ chồng Hờ Thị Dính đang xem ti vi. Anh chồng vừa xem vừa dịch tiếng và chữ phổ thông trên màn hình cho vợ. Nắm cơ hội, anh tuyên truyền, giải thích tác dụng của thông tin quan trọng trong phát triển kinh tế… Mà đâu phải lúc nào chồng cũng có thể bên vợ để giải thích, phân tích. Thấy đúng quá, anh chồng đồng ý cho Dính đi học. Thậm chí có lần, vợ chồng nhà nọ cãi nhau, kéo lên đồn nhờ hòa giải vì chuyện rất nhỏ. Chả là, gà ở bản bán 100 nghìn đồng/kg, chị vợ mang con gà 2,3kg lên thị trấn, cách nhà 15km để bán. Người mua trả giá nhưng chị vợ không biết tính số tiền bao nhiêu cho đúng, đành mang về. Sau khi hòa giải, bộ đội vận động chị vợ đến lớp xóa mù chữ, chị này đang còn ngần ngại thì anh chồng đã thúc giục: "Phải đi học thôi, hằng ngày anh sẽ chở em đến lớp".

Trong lớp có trường hợp bà ngồi học cùng với cháu nên người bà rất mặc cảm. Cháu học đến đâu nhớ đến đấy, bà thì ba ngày chưa nhớ nổi một chữ nên chỉ muốn bỏ... Thiếu tá Trần Hà, Phó đồn trưởng Đồn Biên phòng Trung Lý, chia sẻ, việc vận động đồng bào đi học đã khó, nhưng việc duy trì sĩ số học viên đến lớp còn khó hơn. Ngoài tâm lý mặc cảm, tự ti về tuổi tác, còn do tác động của hoàn cảnh công việc, điều kiện thời tiết.

Nhặt lại cái chữ đã rơi

Lớp học ở bản Khằm 1 có cặp vợ chồng Vàng A Cợ được mọi người nhắc đến như một tấm gương hiếu học. Đều đặn hằng ngày, cứ đến giờ đàn gà lên chuồng là A Cợ giục vợ cùng đến lớp. “Hồi nhỏ, mình chưa biết cái chữ nó quan trọng như thế. Giờ làm chủ gia đình mới thấy lên xã giao dịch giấy tờ, ra chợ buôn bán, lên nương đo chiều rộng của miếng đất... cái gì cũng cần biết chữ. Nhà mình có 4 đứa con đang đi học vào ban ngày, vợ chồng mình đi học ban đêm, vui lắm. Vợ mình thích học chữ, đi nương về, chưa kịp ăn cơm đã đi học luôn, có hôm mưa bão, nghỉ học thì nó buồn lắm. Bây giờ, vợ chồng mình đã biết đánh vần, biết tính toán nên việc buôn bán cũng dễ dàng. Có cái chữ rồi, việc nuôi 4 con ăn học chắc chắn thuận lợi hơn”-A Cợ bày tỏ. Nhưng để A Cợ ham học như hôm nay, phải kể đến cái tài cuốn hút người học của những người thầy biên phòng, nhất là thầy Thường. Biết học viên đến lớp sau một ngày làm nương đã mệt mỏi, thầy Thường viết lên bảng một bài hát rồi hát cho mọi người nghe. Giọng thầy khỏe khắn, trầm bổng, lớp học đang lộn xộn bỗng hút hết về phía thầy, từ cụ già đến những thiếu nữ háo hức xem thầy biểu diễn, vài người đàn ông đang hút thuốc bên ngoài lớp học cũng tự giác chạy vào... "Mọi người muốn học bài hát này không?". "Hay quá, cán bộ dạy tao hát đi!"... Và cứ thế, từng con chữ theo dòng nhạc du dương thấm dần vào người học theo ngày tháng. Học viên "tốt nghiệp" chính vào lúc họ biết đọc, biết viết và hát được bài hát đó.

Do chỉ là công việc kiêm nhiệm nên các thầy giáo biên phòng phải thu xếp thật khéo những nhiệm vụ mà đơn vị giao cho để đến lớp giảng bài. Để thầy không vắng lớp (thầy vắng một hôm thì việc vận động đến lớp lại phải làm lại từ đầu), Đồn Biên phòng Trung Lý cử ba cán bộ trong Đội Vận động quần chúng lập thành một tổ giáo viên luân phiên đến dạy. Thiếu tá QNCN Lê Văn Thường cho biết: “Việc mở lớp dạy chữ cho đồng bào hoàn toàn là tự nguyện, chúng tôi không có thêm chút phụ cấp nào. Tiền xăng xe, chi phí đi lại cũng tự túc. Nhiều buổi, học viên đến lớp, thiếu vở, thiếu bút, thầy giáo bỏ tiền túi ra mua tặng. Để thu hút người học, có thầy còn mua gói bánh, gói kẹo liên hoan cho lớp học thêm vui vẻ”. Vất vả là vậy nhưng với anh Thường thì đó là niềm vui lớn. Con chữ như sợi dây nối liền tình cảm giữa Bộ đội Biên phòng với đồng bào. Đến bản nào các anh cũng có "học trò", việc tuyên truyền, vận động đồng bào tham gia bảo vệ đường biên mốc giới thêm phần thuận lợi, dân trí lên thì an ninh trật tự địa bàn cũng lên theo, còn hủ tục, tệ nạn xã hội lui dần. Điều quan trọng nhất là đồng bào hiểu được mục đích, ý nghĩa của các chương trình, dự án kinh tế-xã hội, từ đó tham gia và dần dần thoát nghèo.

Cả thầy và trò đều có quyết tâm xóa mù chữ, nhưng đường đi của con chữ đến với dân bản cũng còn gian nan nhiều bề. Lớp học xóa mù chữ ở bản Khằm 1 năm 2017 được tổ chức từ tháng 6, nhưng sau mấy buổi học ban đầu, Ban tổ chức phải đồng ý cho học viên tạm hoãn vì thời gian học trùng với thời gian thu hoạch vụ lúa, hết vụ lúa thì lại vào mùa mưa lũ, địa hình chia cắt, khó đi... Sau nhiều tháng gián đoạn, một buổi tối cuối tháng 10, lớp học ở bản Khằm 1 mới "khai giảng" trở lại. Trước lúc tạm hoãn, học viên Cư Thị Xâu đã nói được vài câu tiếng phổ thông. Nay kiến thức ấy bị bỏ quên trên nương, trên rẫy. Thầy giáo lại phải dạy lại từ đầu. Hôm nay, Xâu lại làm quen với khái niệm năm sinh, ngày sinh... Theo lời anh Thường thì Xâu sinh năm 1998, nhưng đến nay đã có 2 đứa con. Cô không nhớ mình lấy chồng năm bao nhiêu tuổi. Xâu giao tiếp với thầy lí nhí bằng tiếng Mông. Xâu bảo, hết vụ thu hoạch, ngồi xem ti vi, Xâu bỗng thấy mình lại “chỉ nhìn thấy cái hình mà không nghe được cái tiếng”. Xâu tiếc cái công thầy dạy, cái công đi học... nên hôm nay lại đến lớp với hy vọng "cái chữ nó rơi thì mình nhặt lại".

Người Trung Lý tự hào được sống ngay dưới chân Cổng Trời, nhưng đến nay vẫn là xã nghèo nhất của Mường Lát. Đã và đang có rất nhiều kế hoạch, dự án xóa đói, giảm nghèo triển khai ở đây, nhưng khi mà hầu hết bà con đều trong tình trạng mù chữ và tái mù chữ thì mọi mục tiêu kinh tế-xã hội vẫn còn nằm đâu đó ngoài đường chứ chưa đi vào từng bản, từng nhà. Việc học chữ, vì vậy mà trở thành "con đường độc đạo" đầy thử thách nhưng đồng bào nhất thiết phải vượt qua. Trưởng bản Khằm 1 Vàng A Sùng sau khi tham gia ba lớp xóa mù chữ đã học dần lên để có bằng bổ túc THPT, giờ thì anh đang là sinh viên năm thứ nhất trường đại học luật. Nhờ biết chữ, anh đã áp dụng kỹ thuật mới về trồng trọt, chăn nuôi trên nương rẫy nhà mình. Chỉ trong vài năm qua, gia đình Vàng A Sùng đã vươn lên thoát nghèo, có bát ăn bát để, sắm được ti vi, xe máy. Người bản Khằm 1 đang nhìn vào A Sùng để có niềm tin và nghị lực vào sự học nơi Cổng Trời!

Bài và ảnh: VĂN TUẤN - LÊ GẤM