Nghe anh bạn “quảng cáo”, tôi cứ háo hức chờ đợi, cứ mong sao cho mau đến Ngày kỷ niệm 50 năm thành lập Binh chủng Đặc công (19-3-1967/19-3-2017).

Nguyên sĩ quan đặc công khoe chẳng quá lời. Thưởng thức phần hội của lễ kỷ niệm, trong tôi trào dâng bao trạng thái cảm xúc. Ban đầu là sự ngỡ ngàng, rồi ngưỡng mộ, cảm mến... theo chiều cảm giác mạnh. Nhưng tĩnh tâm lại, trong tôi cứ lắng sâu niềm cảm phục, xúc động và xốn xang niềm tin.

Thật may, trên khán đài hôm đó, tôi được ngồi cạnh Đại tá, nhà văn Chu Lai. Với nhà văn mặc áo lính này, phải dành cho cụm từ “Siêu đặc công chính hiệu” mới thỏa đáng. Bởi, trước khi trở thành nhà văn chuyên nghiệp của quân đội, trong kháng chiến chống Mỹ, anh đã có thời gian dài trong đội hình Đặc công Rừng Sác, đã cùng đồng đội mưu trí, dũng cảm chiến đấu bao trận ven đô, nội đô Sài Gòn. Lính chiến, nhà văn dạn dày trận mạc, trào lộng văn chương này đã gửi gắm thật nhiều tình cảm về người lính nói chung, bộ đội đặc công nói riêng qua những tiểu thuyết về thời chiến, thời bình, qua những câu chuyện trong các cuộc giao lưu và khi là khách mời trên truyền hình, vậy mà hôm đó cũng không kìm được lòng mình. Xem thế hệ con em trình diễn những kỹ thuật mới, cựu chiến sĩ đặc công rất vui và thán phục: “Phải kiên trì, khổ luyện lắm anh em mới làm được như thế, tất cả đều mau lẹ, chuẩn xác, chắc đòn, như mặc định, như kết quả của sự lập trình hoàn hảo. Đó là thành quả của luyện thép...”. Nhà văn bày tỏ điều này ở gam hào sảng, nhưng tôi hiểu trong thẳm sâu lòng anh là niềm tự hào về đặc công, về niềm tin vào thế hệ hôm nay.

leftcenterrightdel
Các chiến sĩ Lữ đoàn ĐCBĐ 1 biểu diễn khí công

Trong đội hình trình diễn kỹ-chiến thuật đặc công tại Lễ kỷ niệm 50 năm truyền thống bộ đội Đặc công năm ngoái, có hàng trăm cán bộ, chiến đấu viên của Lữ đoàn ĐCBĐ 1. Tên đơn vị, tên những kỹ-chiến thuật đặc công mới khiến chúng tôi phải tò mò. Vậy là, anh bạn nguyên là sĩ quan đặc công lại tổ chức “mũi luồn sâu” của nhà báo đến Lữ đoàn ĐCBĐ 1.

Đã từng được xem cán bộ, chiến đấu viên trình diễn, dịp này lại được chứng kiến họ luyện rèn, được tìm hiểu lịch sử, truyền thống, chiến công, thành tích của đơn vị, được gặp gỡ những anh hùng, những cựu chiến binh thời trận mạc, chúng tôi càng cảm phục các thế hệ cán bộ, chiến sĩ ĐCBĐ, càng đồng cảm với khái quát “luyện thép” của nhà văn Chu Lai.

Cuối năm 1967, đầu năm 1968, trước đòi hỏi từ thực tiễn chiến trường và yêu cầu phát triển lực lượng, cách đánh đặc công, theo chỉ thị của trên, ngày 15-4-1968, Bộ tư lệnh Đặc công đã ra Quyết định thành lập Tiểu đoàn ĐCBĐ 1, nay là Lữ đoàn ĐCBĐ 1. ĐCBĐ là 1 trong 3 thành phần lực lượng chủ yếu của Binh chủng Đặc công, được coi là “đặc biệt của đặc biệt”. Bởi nhiệm vụ, chức năng của ĐCBĐ vô cùng phức tạp và nguy hiểm, được giao đánh phá các mục tiêu quan trọng, hiểm yếu của địch ở các thành phố, thị xã và ở tận hậu phương chiến lược của chúng. Tiểu đoàn ĐCBĐ 1 được giao nhiệm vụ hết sức quan trọng: Xây dựng và huấn luyện lực lượng ĐCBĐ làm nhiệm vụ chiến đấu và công tác đặc biệt ở phía Tây, đồng thời tăng cường cho chiến trường miền Nam, nhằm thực hiện phương châm tác chiến “Địch xuất phát từ đâu, ta sẽ đánh trả ngay tại sào huyệt của chúng”. Để hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho chiến trường phía Tây và miền Nam, những chiến sĩ ĐCBĐ ưu tú, có bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu vững vàng và tinh thông kỹ-chiến thuật đặc công đòi hỏi công tác huấn luyện của đơn vị phải rất cơ bản, tỉ mỉ, khắt khe.

Thiếu tá, cựu chiến binh Trương Văn Vinh, nguyên là chiến đấu viên thế hệ đầu tiên được huấn luyện tại đơn vị vẫn y nguyên chất ĐCBĐ: “Được tuyển chọn về Tiểu đoàn ĐCBĐ 1 để huấn luyện, chúng tôi tự hào lắm. Bởi biết sau huấn luyện sẽ được giao nhiệm vụ đặc biệt, vì vậy sức thanh xuân, lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ dồn hết cho luyện rèn, để có sức khỏe dẻo dai, bản lĩnh vững vàng, tinh thần thép, quyết tâm cao và tinh thông mọi kỹ thuật. Không chỉ có vậy, vì chúng tôi hoạt động theo tổ nhỏ lẻ, lại ở ngoại tuyến, nên phải thuần thục rất nhiều nội dung, như sử dụng la bàn, bản đồ các loại, đi theo góc phương vị, học tiếng và tìm hiểu phong tục tập quán địa bàn mà mình sẽ đến làm nhiệm vụ. Chúng tôi còn được huấn luyện thành thạo nhiều nghề khác nhau để che mắt địch và cả để kiếm sống trước những tình huống hậu cần bất trắc...”.

“Luyện thép” thời đầu của đơn vị đã như thế! Từ “cái nôi biệt động” này, bao cán bộ, chiến đấu viên, bao thợ “lái xe”, “điện máy”, “thương gia” và cả “đánh giày” ... đã chi viện cho chiến trường phía Tây và chiến trường miền Nam. Lúc họ độc lập tác chiến theo tổ, đội nhỏ lẻ, khi phối hợp với các lực lượng bạn thực hiện những trận đánh hiệu quả cao, những chiến công hiển hách làm kinh hoàng bạt vía quân thù, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế vẻ vang.

Trong 12 ngày đêm của Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972, người dân Việt Nam đều biết, đều tự hào; người yêu chuộng hòa bình toàn thế giới đều ngưỡng mộ về chiến công lừng lẫy của lực lượng Phòng không-Không quân ta đã bắn rơi 81 máy bay, trong đó có 34 pháo đài bay B52 của đế quốc Mỹ. Nhưng còn 8 chiếc B52 khác cũng bị phá hủy khi chưa kịp cất cánh, chưa kịp “dạo chơi” để gây tội ác đối với người dân Hà Nội, thì rất ít người biết đến. Đó chính là kết quả của trận đánh đặc biệt, với hiệu suất tuyệt vời của hai cán bộ, chiến đấu viên biệt động của Tiểu đoàn 1A. Trước tình thế hết sức bất lợi và hiểm nguy, 2 ĐCBĐ đã mưu trí, dũng cảm và thật quyết đoán tập kích vào căn cứ không quân Utapao được bảo vệ nghiêm ngặt của Mỹ trên đất Thái Lan vào đêm 9-1-1972.

Anh hùng LLVT nhân dân, Trung tá, cựu chiến binh Bùi Văn Phương, một trong hai chiến đấu viên trực tiếp “xuất quỷ nhập thần” vào sân bay Utapao, nguyên Phó đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Đoàn ĐCBĐ 1, tuổi đã cao, nhưng vẫn rất tinh nhanh và minh mẫn. Người anh hùng say sưa giới thiệu với chúng tôi về kỷ vật thiêng liêng-khẩu súng ông dùng chế áp địch trong trận tập kết sân bay

Utapao năm xưa, rồi nói lời gan ruột: “Vũ khí không thể thiếu với chiến đấu viên ĐCBĐ, nhưng bản lĩnh, tinh thần chiến đấu, thao lược kỹ thuật, cách đánh chuyên ngành, đồng thời phải mưu trí, sáng tạo, quyết đoán trước các tình huống mới là quyết định. Điều đó có được chỉ có thể qua rèn luyện một cách hệ thống, kỹ càng và nghiêm ngặt...”. Nghe Anh hùng LLVT nhân dân, cựu chiến đấu viên ĐCBĐ nói thế, chúng tôi ngẫm, đó không chỉ là truyền thụ kinh nghiệm, mà chính là lời căn dặn thế hệ. 

Khắc ghi lời căn dặn của thế hệ cha anh, phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân, thế hệ cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn ĐCBĐ 1 hôm nay luôn miệt mài luyện rèn để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Từ năm 2005, tình hình khu vực và thế giới diễn biến rất phức tạp, ở nhiều nước liên tiếp xảy ra các vụ khủng bố, xung đột sắc tộc, tôn giáo. Trong nước, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động bạo loạn, gây mất ổn định ở một số địa phương. Trước tình hình trong nước và thế giới diễn biến như thế, Lữ đoàn ĐCBĐ 1 tiếp tục được trên tin tưởng giao phó nhiệm vụ mới-chống khủng bố. Nhiệm vụ này là của cả đơn vị, nhưng cần một lực lượng chuyên trách, chuyên sâu. Từ tính chủ động và chủ trương đó, trên đã quyết định cho đơn vị thành lập Đội 7 chống khủng bố.

Theo Trung tá Phạm Ngọc Huynh, Đội trưởng Đội Chống khủng bố, để hoàn thành nhiệm vụ mới mẻ này, ngoài tiếp tục huấn luyện cán bộ, chiến đấu viên thuần thục các kỹ-chiến thuật chung của ĐCBĐ, đơn vị bắt tay ngay vào nghiên cứu, thực hiện những nội dung huấn luyện và sử dụng vũ khí mới, để khi có tình huống là sẵn sàng, tự tin vào cuộc.

Từ những vụ khủng bố trên thế giới, vận dụng vào địa bàn được phân công, đơn vị xác định các hình thức chiến thuật cơ bản là đánh-bắt lực lượng khủng bố, giải thoát con tin ở khách sạn, hội trường, nhà hát, trụ sở làm việc, sân vận động, bến xe, nhà ga, sân bay... và những nơi công cộng khác. Từ đặc điểm mục tiêu, đối tượng như thế nên công tác huấn luyện rất phức tạp. Cán bộ, chiến đấu viên phải thật thành thục, khéo léo leo sào, leo dây, leo chống sét, leo kiểu thạch sùng và leo bằng cơ cấu bám. Huấn luyện võ thuật, bắn súng... cũng đòi hỏi nhiều yêu cầu mới, với độ chính xác tuyệt đối, như thế mới tiêu diệt được khủng bố và bảo đảm an toàn cho con tin.

Thiếu tá Trần Xuân Đạt, trợ lý tác huấn, Phòng Tham mưu Lữ đoàn, được giao phụ trách mảng võ thuật, đồng thời là huấn luyện viên môn võ chiến đấu tay không của Binh chủng Đặc công là người hết mình vì đơn vị, hết lòng với các chiến đấu viên. Quê ở Yên Thành, Nghệ An, vợ con vẫn ở quê, anh ít có thời gian và điều kiện về thăm gia đình. Vì thế giờ nghỉ, ngày nghỉ anh vẫn miệt mài nghiên cứu, sáng tạo ra những thế võ, bài võ mới. Mới đây bài “Hổ quyền” với 50 động tác mạnh mẽ mà uyển chuyển của anh được các cấp đánh giá cao, được 50 cán bộ, chiến đấu viên biểu diễn tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Binh chủng Đặc công làm mãn nhãn mọi người.

Tại khu luyện tập các kỹ thuật leo tường và võ thuật, chúng tôi thật “nể” 11 chiến sĩ nữ. Nguyễn Thu Hằng, Hồ Thị Hòa, Phan Thị Nhân, Hoàng Thị Vân Anh... đều mang quân hàm binh nhất, tuổi đời còn rất trẻ, tuổi quân vừa đầy năm mà họ thực hiện các kỹ thuật leo tường, đánh đối kháng... khá bài bản và chuẩn xác. Họ trẻ mà làm người có tuổi chúng tôi “ái ngại”, họ cũng đưa chúng tôi từ cảm giác mạnh đến lắng sâu cảm mến.

“Lò luyện thép” Lữ đoàn ĐCBĐ 1 là vậy, hơn 50 năm qua cứ “đều than đỏ lửa” để luyện ra những “thanh thép” tuyệt vời, không hề hoen gỉ, cong vênh. Trong lĩnh vực luyện kim, luyện thép, thế giới đã tìm ra nhiều phương pháp tối ưu. Còn “luyện thép” ở Lữ đoàn ĐCBĐ 1 nói riêng, Binh chủng Đặc công nói chung hiệu quả nhất, bền vững nhất vẫn là truyền thụ, giao thoa giữa các thế hệ, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Điều này lãnh đạo, chỉ huy đơn vị đều khẳng định và nhất quán thực hiện, bởi thế việc luyện rèn thật sống động nơi thao trường hôm nay.

Bút ký của HẢI THÀNH