Đặc biệt là hai giải thơ: Giải Ba (không có giải Nhất) cuộc thi Thơ lục bát do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức năm 2010, giải Nhì cuộc thi sáng tác “Đất và người Hải Dương” (tỉnh Hải Dương tổ chức năm 2016).

Vũ Ngọc Thư còn được Đài Tiếng nói Việt Nam, Tạp chí Văn nghệ quân đội, Đài Truyền hình Hải Dương giới thiệu trong khá nhiều chuyên mục về thơ ca. Những năm gần đây, “tao đàn” “Về với sông Sồi” do ông làm chủ nhiệm, diễn ra vào ngày 14-9 hằng năm tại nơi ông đang cư trú (Gia Lương, Gia Lộc, Hải Dương) cũng thu hút bầu bạn gần xa… Tuy nhiên, không phải ai cũng biết một câu chuyện cảm động có liên quan đến thơ Vũ Ngọc Thư, tựa hồ sự “giao duyên” giữa chiến trường với “thi trường”…

Vũ Ngọc Thư sinh năm 1944 tại xã Cẩm Thượng, huyện Cẩm Giàng (nay là phường Cẩm Thượng, TP Hải Dương). Mới hai tuổi, cậu bé Thư đã mồ côi cha mẹ do trận dịch sốt da vàng đầu năm 1946, nên được chú thím đón về nuôi dạy.

Hoàn cảnh và điều kiện sống làm cho Vũ Ngọc Thư sớm thành thạo việc đồng áng, tháo vát trong quan hệ xã hội, lại do có năng khiếu thơ ca bẩm sinh, nên khi thành niên, Thư được cấp ủy địa phương chú ý bồi dưỡng về tư tưởng chính trị và phong cách làm việc, rồi cơ cấu vào ban chấp hành xã đoàn làm Bí thư. Đến năm 23 tuổi anh mới được xã cho đi bộ đội.

leftcenterrightdel
Nhà thơ, thương binh Vũ Ngọc Thư nói chuyện thơ chủ đề "Ngày gia đình" với các thi hữu trong vùng

Ngày 7-1-1967, đảng viên Vũ Ngọc Thư nhập ngũ và được bổ nhiệm ngay chức Tiểu đội phó, biên chế vào Đại đội 3, Tiểu đoàn 234, Đoàn 770 Vận tải, Hậu cần miền Đông Nam Bộ. Môi trường mới mẻ, đầy gian khổ nhưng “lung linh” cảm hứng thẩm mỹ này đã chắp cánh cho tâm hồn thơ trong anh. Và câu chuyện về một kỷ niệm đời lính ẩn trong thơ Vũ Ngọc Thư cũng bắt đầu từ đó.

Thơ trong khói lửa chiến trường…

Tiểu đoàn 234 trước khi vào miền Đông Nam Bộ được huấn luyện tại Sư đoàn 338, xã Thành Thọ, huyện Thạch Thành (vùng Tây Bắc Thanh Hóa). Cảm động trước sự giúp đỡ tận tình của cán bộ và nhân dân địa phương, bài thơ đầu tiên theo đúng nghĩa một bài thơ, nhan đề “Thạch Thành quê ta” đã được Vũ Ngọc Thư cho ra mắt ở đây: Thạch Thành ơi-Đất này sao hùng vĩ!/ Thành Thọ ơi-Đất này sao yêu quý!/ Dân cần lao với ý chí kiên cường/ Coi chúng tôi như những đứa con thương…/ Các mẹ ơi! Bao lời mẹ nhủ/ Dù thao trường mồ hôi con có đổ/ Bao gian nan con cũng vượt qua/ Để mai rồi con giữ lấy quê ta.

Ngày 22-7-1967, Tiểu đoàn 234 hành quân đi B. Đường Trường Sơn đầy gian nan, bất trắc. Vũ Ngọc Thư lúc này đã là Tiểu đội trưởng kiêm Tổ trưởng Đảng, vừa lo bổn phận của mình lại vừa phải giúp đỡ các chiến sĩ. Những vần thơ của anh viết khi vượt những cổng trời heo hút: Lên cổng trời chỉ có mấy bậc thang/ Leo núi nửa ngày mới lên tới đó/ Những người lính đi trong mây, trong gió/ Cổng trời tụt lại phía sau lưng; hay là lúc đi qua những cầu treo lửng lơ trên mặt suối rừng: …Bập bềnh, bập bềnh như đi trên sóng/ Chao chao chân cầu rung rinh bóng đoàn quân/… Tôi mắc võng ngủ rừng tìm khoảng trời trăng sáng/ Chập chờn giấc ngủ võng chao chao... đã khơi dậy cảm xúc thẩm mỹ trong các chiến sĩ, như tăng thêm sức lực để họ vượt qua thử thách, vững vàng tới “miền Đông gian lao mà anh dũng”.

Đơn vị đóng quân trong rừng sâu trên đất Phước Long, ngày ngày dùng xe đạp thồ để chở gạo, đạn, thuốc chữa bệnh và nhu yếu phẩm, theo phương thức nhận ở trạm ngoài đưa vào trạm trong kế tiếp. Chặng do Đại đội 3 đảm nhiệm dài gần 30km, nằm giữa hai căn cứ quân sự Đồng Xoài và Bù Đốp mà địch đã dày công xây dựng. Đường đèo dốc; hai bên cây cối um tùm. Thám báo và biệt kích địch thường phục kích tấn công. Đêm 13-9-1968, địch đưa trực thăng đổ quân đánh chiếm kho hàng H9 của ta, cách chỗ Đại đội 3 đóng quân chừng 3km. 8 giờ ngày 14-9, ta tổ chức chiếm lại kho. Vũ Ngọc Thư phụ trách 40 chiến sĩ đảm nhiệm mũi vu hồi, phối hợp với các mũi khác tiến công địch. Giữa lúc bốn bề đạn nổ chát chúa, sau khi bị một viên đạn của địch xuyên qua bắp trên tay trái, Thư bị tiếp một viên nữa đi xiên đỉnh đầu, rạch một đường ngang hộp sọ. Vết nứt ấy chỉ cần sâu thêm một mi-li-mét thôi cũng đủ làm cho anh trở thành “người thiên cổ” ngay tức khắc! Anh ôm đầu máu trong tình trạng choáng váng, cảm giác lộn xộn lơ mơ… rồi không biết gì nữa.

Hôm sau, Thư tỉnh lại tại Bệnh viện K50 (cách trận địa khoảng một giờ đi bộ đường rừng) sau khi bác sĩ Hai Võ-người Nam Bộ đã phẫu thuật cho anh. Nhờ có các chiến sĩ đứng bên cạnh giải thích, anh đã hình dung lại được mọi sự, kể cả chuyện người chiến sĩ cùng tiểu đội, quê ở xã Phượng Kỳ, huyện Tứ Kỳ, cùng tỉnh Hải Dương với anh đã cõng đưa anh về bệnh viện như thế nào…

Một tuần sau đó, tại Bệnh viện K40 nơi hậu cứ, khi vết thương tạm ổn, anh gượng dậy viết bài thơ “Đêm trực” tặng cô y tá đêm ngày chăm sóc anh. Trong bài có những câu: Bên anh em trực đêm nay/ Mà lòng em thấy tràn đầy mến thương/… Gà rừng đã gáy sang canh/ Trăng soi càng tỏ ngọn cành lá cây/ Mong sao anh sớm một ngày/ Trở về đơn vị tiếp tay diệt thù (Báo Hậu cần miền Đông Nam Bộ đã giới thiệu toàn bộ bài thơ này vào năm 1970).

Năm 1971, do thương tật mất 61% sức khỏe, Vũ Ngọc Thư thuộc diện được ra Bắc an dưỡng để xuất ngũ. Nhưng anh tình nguyện ở lại miền Đông Nam Bộ, làm công tác tạp vụ tại các cơ sở hậu cứ, khi thì phụ trách đội sửa chữa doanh trại, làm quản lý; lúc lại tham gia cáng thương, làm công tác chính sách tử sĩ… Và bài thơ “Cứ bên sông” đã ra đời hồi đó: … Sông Măng ơi, em chảy về đâu?/ Cũng từ đâu nơi bắt đầu dòng chảy/ Đừng trách anh chưa một lần đến đấy/ Bởi có bao giờ người lính được thảnh thơi/ Chỉ ngày mai các anh lại đi rồi/ Xa sông Măng để vào trận đánh/ Lại vương bụi đường, lại vương khói súng/ Biết bao giờ được về tắm trên sông?

Nhờ có thơ mà tìm được bạn

Hết chiến tranh, Vũ Ngọc Thư trở về quê hương trong hoàn cảnh “vợ mọn con thơ”. Người thương binh hạng 2/4 ấy lăn lộn trong cuộc mưu sinh giữa tột đỉnh khó khăn. Song, bên lòng anh luôn canh cánh một nỗi niềm! Đã mấy lần anh đến xã Phượng Kỳ cách nhà anh gần 30 cây số để hỏi tin tức về đồng đội Dịu, người đã cõng anh từ trận địa về Bệnh viện K50 năm xưa... Nhưng anh luôn nhận được câu trả lời: “Xã Phượng Kỳ không có ông bộ đội nào tên là Dịu!”.

“Hay là sau giải phóng miền Nam, Dịu còn đi tiếp, làm nhiệm vụ quốc tế rồi nằm lại trên đất bạn”. Nghĩ thế, Thư lại ôm đầu, vết thương cũ làm anh thêm căng thẳng.

Trong khắc khoải nỗi nhớ mong đồng đội, những câu thơ đậm chất hoài niệm đã bật ra: Bạn về cuộc chiến chưa mờ/ Đêm nằm trằn trọc giấc mơ ngủ hầm/ Ta về đêm ngủ lâng lâng/ Vẫn đâu đạn nổ bom gầm xung quanh/ … Bạn về tắm đất ở làng/ Ta về thao thức với trang thơ này/ Ta về chai cuốc bàn tay/ Chắt chiu dăm chữ cho đầy trang thơ. Giữa những ngày Vũ Ngọc Thư gọi là “đầy khó khăn của cuộc đời (1986-1994)”, anh đã viết: Có một thời chúng tôi sống với đạn bom/ Máy bay gầm, bom rơi dồn dập/ Bát cơm chan khói bom và cát/ Nước mắt cay chất độc da cam/ Ngày bấy giờ dẫu vất vả gian nan/ Chúng tôi sống chứa chan tình đồng chí/ Biết hy sinh vẫn giành nhau nhiệm vụ/ Mắt rưng rưng khi đồng đội lên đường/… Hai mươi năm sau… ai còn trong quân ngũ?/ Ai vết thương đau chập chờn giấc ngủ?/ Ai còn nghèo, áo lính cũ phong phanh?/ Có ai quên đồng đội cũ của mình?/ Có ai bị đồng tiền quật ngã?/ Có ai vì chức quyền mà bon chen, dối trá?/ Những ai vẫn giữ được chính mình?

Và sau đó, hàng trăm bài thơ thuộc nhiều chủ đề cuộc sống được Vũ Ngọc Thư viết ra. Anh viết như là để “trả nợ”. Song càng viết ra lại càng thấy day dứt với câu hỏi: “Dịu ơi! Bạn đang ở đâu?”…

Một ngày đầu thu năm 2014, vợ chồng thi hữu Vũ Văn Báu-Vũ Hải Thê vì có ấn tượng với thơ Vũ Ngọc Thư nên đã đến thăm tác giả. Ông Thư không ngờ đôi bạn thơ ấy lại là người xã Phượng Kỳ, huyện Tứ Kỳ (Hải Dương). Ông lại hỏi về Dịu, nhưng vẫn lại là câu trả lời “Phượng Kỳ không có ông Dịu!”.

Nhưng một bất ngờ đã xảy ra

Ông Báu, sau ít phút một mình ra ngồi ngoài sân “điều nghiên”, bắt đầu từ vị trí vết thương ở sọ não của ông Thư, đã tìm được sự cần tìm. Do trí nhớ của ông Thư bị tổn thương đột ngột (trong trận đánh năm xưa) nên ông đã gọi “Dịu” thay cho tên thật của đồng đội Diệu-người cõng anh ở chiến trường năm xưa, hiện đang là cựu chiến binh ở xã Phượng Kỳ…

Ông Báu chạy vào nhà, mở loa ngoài của chiếc điện thoại, mời ông Thư nghe tiếp cuộc nói chuyện đang diễn ra trong đó. Tiếng của người ở đầu đằng kia:

- Anh Báu yên tâm đi! Anh Thư là tiểu đội trưởng của tôi mà!

- Thế anh có còn nhớ những kỷ niệm gì đối với anh Thư không?

- Nhiều chứ anh! Hồi ở chiến trường, anh Thư bị thương, tôi đã cõng anh Thư và cùng đồng đội đưa anh ấy về Bệnh viện K50 mà… 

Nghe đến đấy, ông Thư như bừng tỉnh. Cái vết thương ở đỉnh não lại cựa quậy, nhưng nó như đang reo lên cùng niềm vui khi ông nói như gào vào chiếc điện thoại ông Báu đưa: “Diệu ơi!”.

Hôm sau, gác lại mọi việc đang làm dở, ông Thư đến xã Phượng Kỳ...

Bài và ảnh: PHẠM XƯỞNG