Đêm ở làng chài

Phải mất gần một giờ đồng hồ, chúng tôi mới đến được địa chỉ cần đến, lúc này trời đã tối hẳn. Cô Hai Liên - "thổ dân" ở vùng này đưa chúng tôi đi, dừng xe tựa vào bụi cây rồi hướng về những nhà bè lấp lóe ánh đèn gọi lớn: “Bảy Tuột ơi, có bạn nhậu nè...”. Ở đằng xa liền có người lên tiếng: “Tui nghe rồi chị Hai ơi, tui đón liền...”. Chỉ trong chốc lát, chú Bảy Tuột lái chiếc xuồng nhỏ cập bến và đón chúng tôi bằng những câu ca cổ rất nồng nàn của người Nam Bộ... Lên nhà bè lúc này là "nội bất xuất, ngoại bất nhập", chúng tôi bắt đầu trở thành cư dân của làng...

leftcenterrightdel

Chị Thủy phơi cá cơm mỗi sáng. 

Chẳng phải hôm nay có khách các anh em nhà bè mới tập hợp ở nhà Trần Quân mà hầu như tối nào trước khi đi ngủ, họ cũng không thể thiếu được dăm ly rượu và vài câu ca cổ. Chúng tôi vừa lai rai vừa được thưởng thức những bản ca cổ do Năm Bú soạn lời. Đó là những câu ca viết về vùng đất, nước, con người làng này trong ngày đầu đến đây tìm kế sinh nhai. Những lời ca ấy giản dị, mộc mạc, vừa bi vừa hài, thể hiện khát vọng mưu sinh, thấm đẫm tình cảm những ngư dân ngày đầu lập nghiệp: “Người làng chài nguyện đời cơ cực, lấy gian lao chọn kế cho mình/ Vợ thức chồng đêm đen giăng lưới, vó cá cơm vội vã lúc mờ sương...” (tác phẩm tự biên của Năm Bú). Lời ca như đã chạm vào trái tim những phận người đầy vất vả xa quê đi kiếm kế mưu sinh, khiến ly rượu đầy hơn và đắng ngắt! 

Cô Hai Liên nhận mình là người đến vùng đất này từ rất sớm. Ngày ấy tình cờ cô lên thăm bà con, thấy nguồn cá rất nhiều, nhưng người dân chưa biết đánh bắt, khai thác... Sau chuyến đi, về nhà cô Hai Liên đã kéo chồng, con tới đây lập nghiệp. Buổi đầu còn chưa được phép, phải sống chui lủi, mãi đến năm 2014, chính quyền địa phương mới thừa nhận bà con làng chài ở lòng hồ thủy điện Sê San 4 là một bộ phận của cư dân địa phương, rồi tập trung bà con về một khu vực thuận lợi nhất cả về giao thông, vị trí địa lý. Làng được đặt tên hành chính là tổ 7, xã Ia Tơi, hiện đã có 25 hộ dân. Bà con chủ yếu sống bằng nghề thả lưới, đặt lờ, đặt vó cá cơm và nuôi cá bè. Anh Nguyễn Duy Khanh, tổ phó tổ 7 cho biết: Hộ gia đình ở đây phần lớn là “vợ chồng son” bởi con cái họ hầu hết để ở quê, nhờ hai bên nội ngoại chăm sóc. Gia đình anh Nguyễn Duy Khanh là một ví dụ, nhà có 3 con đều gửi ở thành phố ăn học. Gia đình anh Trần Quân thì gửi con ở quê nhờ ông bà nội chăm sóc, dạy dỗ... Làng hiện chỉ có vỏn vẹn 5 cháu sống cùng cha mẹ và đang theo học ngoài điểm trường của thôn, mỗi ngày đi học cũng mất hơn 5 cây số đường rừng...

leftcenterrightdel
Gia đình anh Nguyễn Duy Khanh là hộ hiếm hoi có thuyền máy đi lại. 

Trong khi mọi người đang trải lòng về một thời gian nan, vất vả của làng chài thì có tiếng gọi lớn từ ngôi nhà bồng bềnh trên chiếc bè lớn kế bên: “Chị Bảy lên cơn đau dữ lắm Bảy Tuột ơi...”. Tiếng gọi đã phá vỡ câu chuyện. Bảy Tuột thốt lên: “Trời đất, làm sao bây giờ?”, rồi vội vã lái xuồng chạy về. Ngồi cùng trên xuồng, tôi nghe tiếng Bảy Tuột lào phào trong gió: “Gần 50 cây số mới ra đến trạm xá chứ ít gì đâu!”. Ơn trời, một lúc sau chị Bảy dịu cơn đau, mọi người mới an lòng... 

Mưu sinh lúc ngày mới bắt đầu

Nằm trên nhà bè, đêm xuống đẫm sương, tôi nghe tiếng ai đó sột soạt rồi thức giấc. Nhìn ra phía đầu mũi thuyền, chú Bảy Tuột đã thắp ba nén hương, ánh lửa lập lòe. Như hiểu được sự phân vân của tôi, chú Bảy Tuột phân bua: “Người dân ở đây thường cầu an mỗi ngày. Cầu mong được bình an, cầu mong những mẻ lưới nhiều cá hơn...”. Ba nén hương trên mũi thuyền của chú Bảy Tuột chưa cháy hết thì âm thanh từ những chiếc thuyền đã bắt đầu cất lên phành phạch, có cái nghe thật xa, có cái nghe thật gần, phá không gian yên tĩnh của đêm.

leftcenterrightdel
Anh Lê Tiếu thu hoạch cá cơm lúc 3 giờ sáng. 

Tôi ngồi cùng anh Lê Tiếu, người làm cùng với vợ chồng anh Trần Quân chuẩn bị đi cất vó cá cơm. Một ngày làm việc mới của họ bắt đầu. Thuyền của anh Lê Tiếu nổ máy tiến về phía lòng hồ, nơi hàng trăm ánh điện lấp lánh bông đùa với những chú cá cơm say ánh sáng, nhìn xa như một thành phố nổi trên mặt nước, đẹp đến say lòng. Chừng hơn 10 phút, thuyền đến gần một khúc eo rồi tắt máy lẳng lặng trôi về phía chiếc vó. Mọi tiếng động đều không cho phép, anh Tiếu chèo thuyền tiến gần giá tời của chiếc vó rồi nhẹ nhàng quay từng vòng để kéo vó lên. Sau khi vó được cất lên khỏi mặt nước, anh Tiếu mới xoay thuyền vào giữa chiếc vó để dùng rổ hốt “lộc trời”, người làng chài thường gọi con cá cơm ở đây như vậy. Mẻ vó đầu tiên mang về hơn 3 cân cá cơm, anh Tiếu phân bua: “Các anh về dịp này đúng tuần trăng, cá chịu đèn ít lắm. Phải là những đêm không trăng, trời đen như mực, có lúc mỗi chiếc vó cho gần cả chục ký cá! Hộ anh Trần Quân và anh Tiếu là có ít vó nhất làng chài, người nhiều nhất phải là tổ phó Nguyễn Duy Khanh, người có tới 45 chiếc vó. Mỗi buổi sáng vợ và con lái một thuyền, riêng anh một thuyền đi thu cá. Nhiều lúc thu không kịp, anh phải khẩn trương quay vó lên trước lúc trời sáng rồi quay lại hốt cá sau. Trung bình mỗi sáng, gia đình anh thu hoạch hơn 120kg cá cơm, thu về hơn 1,2 triệu đồng. Hộ cô Hai Liên với hơn 30 chiếc vó, thu từ 800 đến 900 nghìn đồng. Nhẩm tính thì thấy, số tiền thu được mỗi ngày cũng khá hấp dẫn so với thu nhập bình quân của người dân vùng này. Tuy vậy, nhận xét của anh Trần Quân làm tôi bất ngờ: “Cũng không phải ngon ăn như vậy đâu!”. Anh tính chi tiết: Trung bình mỗi chiếc vó chi phí mất hơn 3 triệu đồng, trong đó có chiếc ắc-quy 700 nghìn đồng. Lưới thì phơi nắng, thời gian sử dụng cũng chỉ được 5 tháng là phải thay lưới mới, trong khi ắc-quy thi thoảng còn bị kẻ gian lấy trộm. Tính trung bình, mỗi vó một đêm chỉ cho thu nhập vài chục nghìn đồng! Bài toán của anh Trần Quân ai cũng biết, nhưng mưu sinh ở đây thì không còn cách nào khác, phải “năng nhặt chặt bị”.

Ba chiếc vó mang về cho anh Tiếu và Trần Quân hơn chục cân cá cơm. Chúng tôi theo anh trở về nhà bè lúc gần 4 giờ sáng. Giờ đây mới bắt đầu công việc chính của các anh, đó là kéo hơn 1.000m lờ (ở Nam Bộ gọi là bát quái). Dường như nguồn thủy sản dưới lòng hồ đêm qua trốn đi đâu mất-tiếng anh Quân than dài sau khi kéo hơn 500m lờ mà chỉ được vài cân cá vụn! Cô con gái anh làm công ở dưới thành phố hôm nay đi theo, cô gái xách xô cá rồi so sánh: "Mỗi tháng con làm được hơn 6 triệu đồng, như vậy ba phải đánh được ba chừng này cá nữa mới bằng một ngày công của con!". Anh Quân chỉ biết trấn an con gái: “Ừ thì hôm sau trời sẽ thương mà con...”. Sau mỗi lần đi vớt lờ trở về, anh phân cá ra thành 3 loại: Cá bống giữ lại để nuôi, cá to ngon bán cho thương lái 45.000 đồng/kg, cá nhỏ vụn 25.000 đồng/kg. Hôm nhiều thì được vài trăm nghìn đồng, hôm ít cũng chỉ đủ tiền dầu đi lại trong ngày...    

Trời thương và người thương...

Nhớ lại những ngày đầu lên vùng đất này mưu sinh, cô Hai Liên cho hay: “Ngày ấy tôi không biết cá từ đâu ra mà nhiều đến thế, người dân không biết đặt vó nên tôi mua vó từ dưới quê lên rồi tự làm, muốn thu cá bao nhiêu thì có bấy nhiêu. Có lúc một mẻ vó cho tới năm chục ký cá cơm là chuyện thường. Nhưng ngược lại, ngày đó chẳng biết bán cá cho ai, đánh cá lên cũng chẳng để làm gì!”. Còn nay cá cơm lòng hồ Sê San được nhiều người ưa thích vì rất bổ dưỡng, sạch và chế biến được nhiều món như: Mắm cá cơm, gỏi cá cơm, cá cơm hấp với gia vị, cá cơm khô rang sả ớt, cá cơm bánh đa, bột cá cơm... Theo tài liệu khoa học thì đây là loài thủy sinh có mức độ sinh trưởng rất lớn, quanh năm và có giá trị dinh dưỡng cao, bột cá cơm đặc biệt rất tốt cho não bộ của trẻ nhỏ... Ngoài nguồn cá cơm đặc biệt này, dòng sông Sê San và lòng hồ còn có nhiều loài cá ngon như: Cá lăng, cá chép, cá chạch, cá lóc, cá bống... Đặc biệt, cá lăng ở đây rất thơm ngon và có giá trị lớn nhất, một cân có giá vài trăm nghìn đồng... 

Làng chài tổ 7 mấy năm gần đây được chính quyền địa phương rất quan tâm. Mới đầu năm 2017 có đề tài nghiên cứu “Xây dựng mô hình nuôi cá lồng và đề xuất biện pháp phát triển nguồn lợi thủy sản tại các lòng hồ thủy điện Sê San 4, trên địa bàn huyện Ia H’Drai giai đoạn 2 do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kon Tum triển khai. Dự án đã hỗ trợ 14 hộ dân nơi đây mô hình nuôi cá lồng bè trên lòng hồ thủy điện Sê San 4 số lượng 20 chiếc lồng bè, với các loại cá như: Cá thát lát cườm, cá lăng đuôi đỏ, cá diêu hồng. Trong đó có tới 12 lồng cá diêu hồng gần 30.000 con giống, hai loài cá còn lại, mỗi loài 7.000 con giống. Gia đình chú Bảy Tuột cũng may mắn được hỗ trợ một bè cá diêu hồng, cô Bảy Cúc-vợ chú Bảy Tuột, phấn khởi khoe: “Chúng tôi biết ơn Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương nhiều lắm, vừa cho cá giống, vừa cho 50% thức ăn từ lúc nuôi đến khi cá xuất khỏi lồng bè”. Bà con cũng cho biết, hơn 45.000 con cá giống nuôi hơn 20 lồng bè đều thích nghi với điều kiện sống và phát triển tốt.

Đất và người đã chở che, đùm bọc các cư dân làng chài, nhưng chắc chắn chẳng bao giờ bù đắp được những khó khăn, vất vả, nguy hiểm mà họ phải gánh chịu. Trời quá trưa, những học sinh trở về làng gọi cha mẹ đón vang cả hồ... Với các em, “giấc mơ đất liền” có điện, có đường, có những mái ấm che nắng mưa bền vững cùng một vài thiết bị tiện nghi thiết yếu phục vụ cuộc sống dường như vẫn còn rất xa vời...

Bài và ảnh: NGUYỄN VĂN HẠNH