Cuộc sống di cư như đi xuống dốc

Từ thành phố Thanh Hóa, vượt gần 300km mới đến được Mường Lát, huyện vùng biên xa nhất tỉnh. Mưa trắng trời. Những đoạn đường cua tay áo càng trở nên nguy hiểm. Có đoạn nóc xe chạm vào đám mây lơ lửng, có lúc lao xuống dốc cao thăm thẳm. Một bên là núi cao, một bên là vực sâu. Con đường như sợi chỉ dài ngoằng vắt qua thân núi. Cảnh thiên nhiên thật hoang sơ, hùng vĩ. Sau hơn 5 giờ hành quân, chúng tôi đến được cổng Trời thì trời đã tối mịt mùng. Chúng tôi liên hệ vào công tác tại Đồn Biên phòng Trung Lý, Trung tá Nguyễn Văn Hùng, Chính trị viên phó Đồn Biên phòng Trung Lý, chia sẻ: “Trung Lý là xã nghèo nhất của huyện Mường Lát. Bao nhiêu năm nay, câu chuyện giúp bà con thoát nghèo vẫn là nỗi day dứt của chính quyền địa phương và Bộ đội Biên phòng. Các anh vào tìm hiểu thực tế sẽ thấy”.

leftcenterrightdel
Gần về trưa nhưng những quả núi xung quanh cổng Trời vẫn phủ mây trắng. 
Giọng nói tha thiết như có lỗi, ánh mắt buồn của anh Hùng khiến chúng tôi xúc động...

Theo các lão niên ở bản, vùng đất này có tên chữ cổng Trời bởi trước đây đi lại rất khó khăn, đồi núi trập trùng và quanh năm phủ sương trắng. Sáng sớm, mưa vẫn rơi rả rích, con đường đất lên bản Khằm 1 càng trở nên trơn trượt. Không thể đi giày, tôi phải bấm ngón chân xuống đất và cúi rạp người để leo. Vậy mà thỉnh thoảng vẫn bị trượt ngã, đá dăm cứa ngang dọc lòng bàn chân. Lên đến đầu bản, cảnh tượng đầu tiên khiến chúng tôi ngỡ ngàng: Trong thời tiết giá lạnh, những đứa trẻ người Mông cởi trần truồng nô đùa dưới mưa. Vẻ mặt của chúng rất vui tươi, hớn hở. Dưới hiên nhà, một vài người lớn vẫn cặm cụi làm công việc gì đó.

Già làng Vàng A Do là người nhiều tuổi nhất bản. Năm nay, già bước sang tuổi 86. Những người Mông thuộc thế hệ của già hầu hết không nói được tiếng phổ thông. Để trò chuyện, tôi phải nhờ Trưởng bản Vàng A Sùng làm phiên dịch. Già kể, quê già ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Năm 1996, già cùng với một nhóm người Mông di cư về miền đất này. Ngày mới về, xung quanh đây rừng bạt ngàn, con thú cũng sẵn, chỉ cần bước ra khỏi cửa là đã thừa thức ăn; đất đai cũng tốt, gieo lúa, trồng bắp đều đạt năng suất cao. Nhưng "miệng ăn núi lở", chẳng mấy chốc, người di cư về quá nhiều, rừng bị tàn phá, con thú cũng cạn kiệt, đất bạc màu, lũ ống, lũ quét xảy ra thường xuyên hơn nên con người ngày càng lâm vào cảnh khó khăn. Giọng già làng Vàng A Do buồn mênh mang: “Ngày xưa chưa thấy đói như vậy. Khoảng từ năm 2010 trở lại đây thì đói”. “Tại sao xung quanh ngày càng no ấm mà cuộc sống của người bản Khằm 1 lại ngày một xuống dốc vậy?”-chúng tôi băn khoăn. “Một phần cũng bởi người dân không biết nói tiếng phổ thông, không biết chữ nên giao tiếp khó, không biết cả tính toán để mua bán trao đổi. Một năm mới nuôi được vài con gà; bán 4, 5 con mới đủ mua một bộ quần áo. Còn các nhu yếu phẩm tự cung, tự cấp là chủ yếu”-không thấy già làng trả lời, Trưởng bản Vàng A Sùng nói như giải thích.

Bao giờ biết... ước mơ!

Cách nhà già làng Vàng A Do không xa là nhà Sùng Thị Mái. Căn nhà tranh mái lá thấp lè tè. Vào bên trong căn nhà tối om. Mỗi đợt gió lạnh tràn qua mái, căn nhà xào xạc chuyển động. Quan sát trong nhà, chúng tôi thấy không có vật dụng gì giá trị ngoài vài bao thóc được kê trên những thanh gỗ để tránh tiếp xúc với sàn đất. Mái lấy chiếc ghế con, mời chúng tôi ngồi, còn cô thì đứng tiếp chuyện. “Năm nay Mái bao nhiêu tuổi?”. Cô cười e thẹn không trả lời. Giống như hầu hết phụ nữ trong bản, Mái không biết nói tiếng phổ thông. Sau khi được anh Sùng phiên dịch câu hỏi của tôi sang tiếng Mông, Mái trả lời: “Không nhớ đâu” (nói tiếng Mông). “Theo giấy chứng minh thư, chị ấy sinh năm 1994”. Anh Sùng đỡ lời. Sinh năm 1994 mà đến nay Mái đã có 4 đứa con! Đứa đầu được 9 tuổi. Một đứa 4 tuổi. Một đứa đã mất từ khi mới sinh. Còn đứa nhỏ đang ngơ ngác trên lưng mẹ. Tính ra, Mái lấy chồng từ khi 13 tuổi. Tảo hôn ở bản người Mông này không phải là hiếm. Cấp ủy, chính quyền địa phương và Bộ đội Biên phòng vận động miệt mài, nhưng đồng bào di cư nhiều nên tập tục khó bỏ, tình trạng thiếu nữ lập gia đình ở tuổi 14-15 vẫn chưa hết.

leftcenterrightdel
Buổi lên lớp của Thiếu tá QNCN Lê Văn Thường tại lớp xóa mù, bản Khằm 1. 
Cu cậu nhà Mái đứng nem nép, sát bên mẹ. Ánh mắt của nó không bỏ sót một cử chỉ nào của khách. Dường như đây là lần đầu, "căn lều" của gia đình nó có khách.

Từng cơn gió lạnh thỉnh thoảng lại rít qua mái lá. Mỗi lần như vậy, thằng bé lại quấn vào giữa hai chân mẹ trốn gió lạnh. “Nhà mình có đủ gạo ăn không?”-tôi hỏi. “Năm nay không bị đói. Nhưng chắc chỉ được một, hai vụ thôi. Rồi đất bạc màu không trồng được nữa thì lại đói”. Cả bản Khằm 1 có hơn 20 hộ có ruộng lúa nước. Nhà Mái thuộc diện số ít có nương, nhưng do địa hình đồi dốc, thẳng đứng nên nương lúa chỉ trồng được một, hai vụ, rồi đất màu lại bị nước mưa xói mòn trơ đá...

Chúng tôi đang trò chuyện thì Vàng A Sính, chồng Mái đi xát gạo về. Sau mấy câu chào hỏi, anh nhanh nhảu bắt chuyện. Mỗi lần đi xát gạo, Sính chỉ gùi khoảng 10kg thóc. Cũng giống như hầu hết người dân trong bản, không có tiền mặt nên cứ 10kg thóc xát thì Sính phải đổi công máy cho nhà chủ 1kg. Giống như vợ, Sính không nhớ được năm sinh, dù hồi nhỏ có đi học. Trình độ của anh đủ để viết tên mình.

Bữa cơm tối nhà Sính được chuẩn bị rất chóng vánh. Một ít rau rừng luộc và cơm trắng. Những đứa trẻ ăn vô cùng ngon lành. Mỗi đứa bưng một bát xúc ăn thun thút. Ăn nhanh quá, thằng bé bị nghẹn. Sính xử lý rất nhanh. Anh chan một ít nước sôi vào bát thằng bé, rồi lại tiếp tục ăn. Sính cho biết, một năm chỉ dăm ngày bữa cơm nhà anh có thịt, thường là dịp lễ, Tết.

leftcenterrightdel
Những đứa trẻ ở bản Khằm 1. 
Ở cổng Trời, gia đình anh Vàng A Cả có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Anh cũng được biết đến là người có quyết tâm. 4 năm trước, A Cả bị nghiện. Trong trí nhớ của anh, thời điểm đó, số người nghiện ở cổng Trời nhiều lắm. Người đưa A Cả đến con đường nghiện ngập chính là người anh ruột. Để có tiền hút chích, A Cả bán nhà, bán nương. Vợ anh bỏ đi lấy chồng khác, con cái nheo nhóc, đói khổ. Kể đến đây thì A Cả khóc như một đứa trẻ: “Tôi thấy mình thật tội lỗi, cảm giác cuộc đời đã đi vào ngõ cụt, chỉ có thể kéo lại là viết đơn xin cán bộ cho đi cai nghiện”. Sau một thời gian, A Cả đã cai nghiện được. Anh về xin lỗi vợ, mong vợ quay về cùng anh nuôi các con.

Chị Giàng Thị Mị ngồi nghe chồng kể chuyện với nét mặt đăm chiêu. Dù đi lấy chồng mới nhưng trong sâu thẳm, chị vẫn thương A Cả và các con. Mị đã có lời với chồng mới để quay về cùng A Cả làm lại cuộc đời.

Chỉ cách đây mấy năm thôi, cổng Trời là điểm nóng về ma túy. Người dân cổng Trời đi đến đâu cũng bị mang tiếng, dị nghị. Chị Mị bảo: “Mình lầm lũi như con trâu suốt ngày trên nương, nhưng vẫn bị mang tiếng, thấy mặc cảm và xấu hổ lắm. Giờ đây được sự quan tâm của cán bộ, của Bộ đội Biên phòng, cuộc sống của chúng mình đổi mới rồi”. Chị Mị còn phấn khởi khoe 9kg muối trắng và 1 thùng muối bột canh mới được bản cấp. Với gia đình chị, đó là tài sản lớn để cải thiện, nâng cao chất lượng bữa ăn, tái tạo sức lao động. Không có ruộng nhưng hiện nay, gia đình chị Mị đang thực hiện Chương trình trồng rừng theo Quyết định 147 của Chính phủ. Theo đó, mỗi khẩu được Nhà nước hỗ trợ 15kg gạo/tháng.

Đa số người dân ở cổng Trời đang thực hiện chương trình trồng rừng theo Quyết định 147. Số gạo hỗ trợ không làm kinh tế của các hộ gia đình khấm khá hơn mà chỉ đủ giúp họ vượt qua được cái đói.

Chia tay bản Khằm 1 trong hoàng hôn u ám, những đọt mây vẫn quấn quýt quanh cổng Trời. Từ cuối bản nhìn ra xung quanh, đất rừng vẫn màu mỡ và mênh mông, nhưng đồng bào chưa chăm canh tác. Tôi hiểu hơn giấc mơ và nỗi lòng của những người lính biên phòng cùng những cán bộ tâm huyết ở địa phương. Đất ấy, rừng ấy thừa sức để đồng bào có một cuộc sống ấm no, sung túc, miễn là phải thay đổi tư duy và chịu khó nuôi trồng. Nhưng sẽ còn không ít công sức tuyên truyền, vận động nữa thì đồng bào mới biết mơ giấc mơ chung với cán bộ địa phương và Bộ đội Biên phòng...

Bài và ảnh: VĂN TUẤN - LÊ GẤM