Đơn vị tôi đang thực hiện nhiệm vụ diễn tập sẵn sàng chiến đấu, cứu hộ, cứu nạn... chuyển sang thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn thật.

Chở hàng cứu trợ ra Côn Đảo

Ngày 2-11-1997, bầu trời sân bay Tân Sơn Nhất đen kịt. Những chiếc máy bay trực thăng đội mưa ướt sũng nằm trên sân đậu. Nhiều tổ bay của Trung đoàn Không quân 917 đứng ngồi nhấp nhổm trong phòng chờ, họ khắc khoải nhìn ra khoảng không gian đan đầy nước bắn từ trên cao xuống. Cứ mưa bão thế này, chắc đợt diễn tập cuối năm khó có thể thực hiện đúng theo dự kiến.

Cơn bão Lin-đa hình thành trên Biển Đông, khi đi vào vùng biển nước ta và Vịnh Thái Lan, nó trở thành cơn cuồng phong, tàn phá dữ dội những gì có trên mặt đất, mặt biển. Người dân Nam Bộ vốn quen với điều kiện khí hậu thuận hòa, thân thương với hai mùa mưa-nắng, nên khi gặp bão ai cũng sững sờ, ngơ ngác. Và thế là cơn bão Lin-đa tha hồ mà vật lộn, gào thét, thể hiện tất cả sự hung bạo, tàn nhẫn của mình đối với miền Tây.

leftcenterrightdel
Quân-dân đảo Phú Quý kéo tàu giúp dân sau cơn bão Du-ri-an năm 2006. 

5 giờ ngày 3-11-1997, Trung đoàn Không quân 917 nhận được lệnh của Bộ Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh Phòng không-Không quân chuẩn bị 6-10 chiếc trực thăng để tham gia cứu hộ, cứu nạn. Các phi công, nhân viên bay của Phi đội 1 lập tức chuẩn bị máy bay ngay. Mưa vẫn đổ như thác. Bầu trời từ khu vực Đồng Nai đến Cà Mau một màu đen kịt. Anh em thợ máy mặc áo mưa mà người ướt đẫm nước và mồ hôi khi kiểm tra các máy bay. Thông tin từ các phương tiện truyền thông, có rất nhiều tàu thuyền bị bão đánh chìm, thôn ấp đổ nát. Hàng nghìn ngư dân chơi vơi giữa trùng khơi... Khi ấy, tôi đang làm việc tại Tiểu đoàn bảo đảm Hậu cần-Kỹ thuật sân bay Tân Sơn Nhất, cũng nóng lòng cùng các đồng đội mong thời tiết tốt hơn để cất cánh. Nghe tin bộ đội Không quân chuẩn bị bay đi cứu nạn, rất nhiều các doanh nghiệp, tổ chức chính trị-xã hội đã xin phép đưa hàng cứu trợ vào sân bay. Chỉ trong vài giờ đồng hồ, hàng trăm chiếc phao cứu sinh, hàng tấn mì ăn liền, nước uống, thuốc men đã ùn ùn theo những chiếc xe ô tô vào khu bãi đậu trực thăng. Vừa làm việc, tôi vừa tranh thủ lấy giấy bút ghi lại những hoạt động trên sân bay để có tư liệu viết bài. Lúc này tôi chỉ nghĩ làm sao có được mẩu tin đơn giản gửi đăng Báo Quân đội nhân dân và tờ tin của quân chủng.   

7 giờ sáng, mưa vẫn bủa trắng trời. Trên những chiếc trực thăng, hàng trăm chiếc phao cứu sinh, đồ ăn thức uống, thuốc men đã được chất đầy khoang. Sau 8 giờ, trời có vẻ sáng hơn. Những hạt mưa thưa đi, nhưng gió vẫn còn vật vã, uốn éo trên không trung. Tôi nghe các anh chỉ huy đơn vị nói với nhau: “Thời tiết thế này cất cánh hơi nguy hiểm, nhưng nếu không bay, bà con sẽ còn chịu nhiều đau thương”. Thế là các tổ bay hạ quyết tâm, xin phép cấp trên được cất cánh. Suy đi tính lại, cân nhắc từng li từng tí, cuối cùng lãnh đạo quân chủng và chỉ huy Sư đoàn Không quân 370 đã đồng ý cho Trung đoàn Không quân 917 cất cánh. Chỉ sau 30 phút, sân đậu trực thăng đã giòn tan tiếng nổ. Tiếng các loại xe ô tô, tiếng động cơ máy bay, tiếng cánh quạt chém gió xoàn xoạt như càng thôi thúc các chiến sĩ bay về những vùng bị ảnh hưởng nặng nề của cơn bão.

Mưa vẫn xả xuống sân bay, nhưng không ngăn được những cánh bay đầu tiên của đoàn cất cánh hướng về phía Côn Đảo, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang. Phải năn nỉ, xin phép hết lời với chỉ huy, tôi mới được đi theo một chiếc trực thăng bay ra Côn Đảo. Cho đi rồi mà một đồng chí chỉ huy vẫn nói với theo: “Đi không biết có làm được trò trống gì không, hay chỉ làm vướng người khác”. Chỉ với một cây bút bi, một cuốn sổ cũ trên tay, tôi vừa thực hiện nhiệm vụ của một chiến sĩ đi cứu trợ, vừa thực hiện công việc của một người viết báo. Trước khi đi tôi chỉ kịp gọi điện hỏi qua chú Phạm Đình Trọng, Trưởng ban Đại diện phía Nam và anh Trần Thế Tuyển là Phó ban Đại diện phía Nam của Báo Quân đội nhân dân cách lấy thông tin để viết tin, bài mà thôi.  

Đường ra Côn Đảo đầy mưa gió. Gió cuốn bên phải, gió lật bên trái, gió thốc từ dưới bụng máy bay lên, làm chúng tôi chông chênh, nghiêng ngả như đang ngồi trên ô tô đi qua hàng loạt ổ voi, ổ trâu trên đường. Gió lớn khiến máy bay chỉ bay với tốc độ xấp xỉ 100km/h. Còn cách đảo chừng 20km, toàn thân máy bay bị lắc rất mạnh do gió cuộn từ đảo thốc ra. Hai chiếc trực thăng như hai con chuồn chuồn nhỏ nhoi, chao đảo, đang cố lựa hướng gió để vào đảo. Chiếc bút và cuốn sổ trên tay tôi cũng chao nghiêng, bật lên, bật xuống theo sự rung động của máy bay. Tôi cố ghi chép được thật nhiều cảm xúc và hoạt động của chuyến bay. Trời lạnh là thế mà gương mặt anh em tổ lái lấm tấm mồ hôi. Sau 15 phút vật lộn, hai chú chuồn chuồn sắt ấy cũng đáp gọn ghẽ xuống sân bay Cỏ Ống dưới sự điều khiển điêu luyện của hai tay lái Nguyễn Xuân Thủy và Lê Việt Thắng.

Côn Đảo xơ xác trong bão. Cây cối ngã gục. Cây lê-ki-ma được trồng bên ngôi mộ nữ Anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu cũng bị gãy một nửa. Hàng trăm chiếc thuyền tan nát, mảnh gỗ trôi lềnh bềnh ven bờ biển. Những ngư dân may mắn được cứu sống trông bơ phờ, da bạc phếch. Nhìn thấy những tấm áo, những viên thuốc, những gói thức ăn chuyển đến, nhiều người bật khóc... Và cuốn sổ trên tay tôi, những nét chữ cũng ngoằn nghèo, mờ nhạt theo.

Bay về vùng cực Nam của Tổ quốc

Những ngày tiếp theo, tôi cùng các tổ bay tiếp tục những chuyến đi cứu trợ về dải đất ven biển các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang. Các tổ bay của các phi công lái chính là: Ngô Quý Bính, Nguyễn Xuân Thủy, Lê Việt Thắng, Nguyễn Văn Khải chở hàng cứu trợ không biết mệt mỏi. Dưới cánh bay, những rừng tràm, rừng đước bạt ngàn tươi tốt hôm nào nay xác xơ, trần trụi không một bóng chim bay. Dọc bờ biển, những ngôi nhà dân cũng chỉ còn lại nền đất trống...

Mất nhà cửa, của cải, người dân bơ vơ như ngây dại. Đúng lúc cái đói gào réo trong lòng bà con vùng bị thiên tai thì những chiếc máy bay trực thăng chở hàng cứu trợ tới. Từ độ cao gần 10m, những gói thức ăn, nước uống được thả xuống bởi các chiến sĩ không quân. Nhìn những cánh tay giơ lên, vẫy rối ríu giữa trời nắng gắt, lòng chúng tôi quặn lại. Rất tiếc là lúc đó tôi không có chiếc máy ảnh để chụp lại những hình ảnh cảm động của bộ đội không quân với bà con vùng bão. Có lần khi tiếp đất, thấy một cô gái lả đi vì “nhịn đói hai ngày rồi”, một thành viên tổ bay cầm một hộp cơm và chai nước đặt vào tay: “Cơm, nước của em đây”. Nói xong, đôi mắt của người sĩ quan đỏ hoe...

leftcenterrightdel
Cảnh hoang tàn ở cửa biển Khánh Hội sau bão Lin-đa. 

Những ngày sau bão Lin-đa, biển vẫn nổi sóng. Những con sóng cao gần 3 mét gào thét dữ tợn dưới cánh bay đang cần mẫn cùng với những con tàu hải quân tìm người sống sót. Máy bay bay rất thấp, có lúc chỉ cách mặt nước vài chục mét. Chính nhờ vậy, chúng tôi đã phát hiện một số người đang ôm can nhựa, ôm mảnh tàu vỡ vật lộn với sóng dữ. Những chiếc phao từ trên không lập tức được thả xuống và thông báo khẩn cấp cho tàu hải quân. Bảy ngày với cơn bão Lin-đa, đoàn Đồng Tháp đã thực hiện 47 chuyến bay, thả 9 tấn hàng và 200 chiếc phao cứu trợ.

Sau những lần đi cùng những chuyến bay cứu trợ, tôi đã viết được 5 tin ngắn. Còn một bài viết nghĩ mãi mà chưa đặt được cái tít hay. Tôi đem chuyện này trao đổi với anh Phan Thanh Viếng (lúc đó là Tổng biên tập Báo Quân khu 7). Anh Viếng nói: “Chú lấy tít: Bay vào vùng “mắt” bão là ổn đấy. Một cái tít khá ấn tượng. Và bài viết “Bay vào vùng “mắt” bão” đã được chuyển cho chú Phạm Đình Trọng. Hai ngày sau, bài viết được đăng trên trang nhất của Báo Quân đội nhân dân,  giúp nhiều độc giả hiểu thêm về sự dữ dội và sức tàn phá kinh khủng của cơn bão Lin-đa cũng như những thiệt hại, mất mát đau thương to lớn mà đồng bào miền Tây phải gánh chịu; về sự mưu trí, dũng cảm và tấm lòng của bộ đội Không quân, của các lực lượng cứu hộ, cứu nạn đối với đồng bào. Đây là tác phẩm tạo động lực để sau này tôi viết được nhiều bài ký chân trang, phóng sự, như: “Đường băng nắng và hoa”, “Phan Rang nắng lửa”, “Cà phê, cháo cá, võng ôm”, “Bên trong những quán cà phê đèn mờ”, “Chợ lấn đường”..., và được Đảng ủy, Ban Biên tập Báo Quân đội nhân dân đề nghị cấp trên điều động tôi về làm phóng viên của tờ báo.

Sau khi bài “Bay vào vùng “mắt” bão” đăng, tôi đã được Ban Biên tập Báo Quân đội nhân dân gửi thư khen và tặng quà. Đó là một kỷ niệm đẹp, một sự động viên khích lệ rất lớn khi tôi trở thành phóng viên của báo. Sau này, tôi còn đi viết bài về nhiều cơn bão lớn như: Xang-sa-ne, Du-ri-an, mưa lũ ở Ninh Thuận. Mỗi chuyến đi đều rất vất vả nhưng để lại trong tôi nhiều kỷ niệm và nhất là giúp tôi định hình phong cách tác nghiệp của phóng viên Báo Quân đội nhân dân, tờ báo "hai lần Anh hùng" và "hai lần chiến sĩ".

.................................

Bài và ảnh: LÊ PHI HÙNG (*)

(* Trưởng ban Đại diện phía Nam, Báo Quân đội nhân dân)