Đồn Biên phòng Bù Gia Mập nằm lọt thỏm giữa Vườn quốc gia Bù Gia Mập, cách Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh Bình Phước gần 3 giờ chạy xe ô tô và từng được biết đến là nơi rừng thiêng nước độc. Vượt qua bao dốc cao, cua tay áo, vực sâu, đến sẩm tối, chúng tôi mới tới được Đồn Biên phòng Bù Gia Mập nằm trên sườn núi giữa điệp trùng núi cao, rừng rậm. Tôi từng được nghe các cán bộ biên phòng kể rằng, cách đây khoảng hai thập kỷ, đường sá đi lại khó khăn, BĐBP đến đây công tác phải mất mấy ngày đường, nhiều đêm phải ngủ lại trong rừng, đối mặt với sốt rét, muỗi, vắt. Nhà báo Đăng Bảy ở Báo Biên phòng có thâm niên gắn bó với vùng đất này vẫn nhớ rất rõ, trước đây nói đến Đồn Biên phòng Bù Gia Mập là nói đến muôn vàn khó khăn, gian khổ về đường đi, nơi ăn, chốn ở. Những cung đường rừng ở đây có nhiều cua tay áo, dốc đứng, không dành cho cánh lái xe ô tô mới vào nghề. Giờ đây đến đồn bằng đường tuần tra biên giới đã được bê tông hóa, khoảng cách về địa lý và thời gian đã được rút ngắn đáng kể.

Trong bộ quân phục dã chiến vừa đi tuần tra về, Trung tá Nguyễn Thành Niên, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Bù Gia Mập dẫn chúng tôi tham quan một vòng đơn vị. Đồn quản lý 6,5km đường biên giới chạy trên dòng sông Đắk Huýt và quản lý phòng cháy, chữa cháy, chống khai thác, săn bắn thú trong khu vực 1.426ha rừng. Đoạn biên giới này rất hiểm trở, muốn đi tuần tra phải vượt núi cao, băng rừng rậm nên việc tuần tra gặp không ít khó khăn, gian khổ. Khi đi tuần tra phải kết bè thả trôi theo dòng sông Đắk Huýt. Vào mùa mưa, đi tuần từ điểm đầu đến điểm cuối mất hai ngày, cán bộ, chiến sĩ phải dựng lều, ăn, ngủ trong rừng rậm. Đi tuần tra trên bộ ở vùng này đã khó khăn, tuần tra trên sông vào mùa mưa lũ, nước chảy xiết còn khó khăn gấp bội phần và nguy hiểm đến tính mạng. Người chỉ huy phải nghe dự báo thời tiết, nhìn dòng nước để đưa tổ tuần tra tránh những cơn mưa lũ đầu nguồn.

leftcenterrightdel
Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Bù Gia Mập đi bè tuần tra trên dòng Đắk Huýt

Bữa cơm chiều được chuẩn bị chóng vánh, gồm toàn những đặc sản của núi rừng như rau nhíp, măng chua… Trong lúc ăn cơm, Đồn trưởng Niên cho biết, ngày mai là phiên tuần tra biên giới. Không để lỡ cơ hội, chúng tôi đề nghị đi trải nghiệm cùng cán bộ, chiến sĩ biên phòng. Lập tức Niên gàn, đường đi khó khăn, hiểm trở, công việc này không phải là “sân chơi” của các nhà báo. Nhưng với sự quyết tâm, háo hức của chúng tôi, cuối cùng anh cũng đồng ý. Chúng tôi đi ngủ sớm để ngày mai 6 giờ sáng xuất phát. Màn đêm buông xuống rất nhanh. Thoáng chốc, đại ngàn Bù Gia Mập đã bị phủ trùm bởi màn sương dày đặc. Nam Bộ vào mùa nắng nóng nhưng đêm chúng tôi phải cuộn tròn trong chăn. Đồn Biên phòng Bù Gia Mập chả khác gì một đốm lửa sáng giữa mênh mông rừng già. Bao năm qua, không kể đêm tối, mưa lũ, BĐBP vẫn kiên cường bám trụ ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất, sẵn sàng vượt thác, băng rừng tuần tra, bảo vệ từng tấc đất biên cương của Tổ quốc.

Đúng 6 giờ sáng, sau khi nghe Đồn trưởng quán triệt nhiệm vụ xong, cán bộ, chiến sĩ bắt đầu hành quân. Chúng tôi đi theo lối mòn băng rừng, vượt dốc hướng về phía sông Đắk Huýt. Những cánh hoa lan rừng trắng tinh khôi trên những thân cây già cùng muôn tia nắng mặt trời xuyên qua vòm lá xanh làm cho không gian nơi đây biến ảo, đẹp đến lạ lùng. Leo lên đến đỉnh một con dốc trong rừng Bù Gia Mập, mỗi bước đi, đầu gối gần chạm vào mặt. Thiếu tá Cao Hoài Sơn dí dỏm: “Cán bộ, chiến sĩ biên phòng chúng em thường đùa với nhau đây là dốc “trời ơi”.

- Vì sao? - Chúng tôi hỏi.

Sơn hóm hỉnh:

- Mỗi khi leo dốc này, mọi người thường than: “Trời ơi mệt quá!” cho nên chúng em đặt tên như vậy.

Xuống hết dốc, chúng tôi đã nghe từ xa xa có tiếng nước chảy rì rào. Đi bộ hơn 3km đường rừng, chúng tôi đến được bờ sông Đắk Huýt cách cột mốc phụ 60/30 (2) khoảng 500m. Sông Đắk Huýt mùa này hiền hòa, nước trong veo, có nơi nhìn thấy sỏi, đá tận đáy. Đại úy Nguyễn Hữu Sĩ, Phó đồn trưởng Đồn Biên phòng Bù Gia Mập phân công người kết bè, người nấu cơm. Nhanh như sóc, những chiến sĩ luồn vào rừng lấy cây lồ ô kết bè. Thiếu tá Cao Hoài Sơn có nước da ngăm đen, dáng người hơi mập, nhưng rắn giỏi và nhanh nhẹn. Hơn 10 năm gắn bó với rừng, thực hiện hàng trăm chuyến đi tuần tra biên giới và được đồng đội phong là “nghệ nhân kết bè”. Quả là “danh bất hư truyền”, khi đến bên bờ sông Đắk Huýt, Sơn thao tác thoăn thoắt như một hiệp sĩ. Mỗi bè được kết bởi 15 cây lồ ô dài chừng 7m. Sơn vừa hướng dẫn các chiến sĩ cách kết bè, vừa thoăn thoắt buộc dây. Lưng áo các chiến sĩ ướt đẫm mồ hôi lúc nào không hay. Trên gương mặt, mồ hôi chảy xuống thành dòng nhưng ai nấy vẫn hăng say làm việc để chạy đua với thời gian. Ba chiến sĩ chụm đầu lại, người nâng, người xếp, người buộc dây. Mỗi bè được kết bằng 7 mối dây, 2 mối kẹp, công việc cuối cùng là buộc túm ngọn lại thành mũi bè. Chưa đầy một tiếng đồng hồ, với tinh thần làm việc khẩn trương, hai chiếc bè đã kết xong và hạ thủy.

Vừa cùng đồng đội kết bè, Binh nhì Điểu Gia Rưng, dân tộc S’Tiêng, được cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị đặt cho biệt danh “Gà rừng”, tâm sự: “Em rất vui và tự hào mỗi lần được tham gia kết bè và đi tuần tra bảo vệ đường biên, cột mốc”. Trước khi nhập ngũ, Điểu Gia Rưng được kết nạp Đảng và đã lấy vợ người dân tộc Mơ Nông. “Em đâu có được lấy vợ mà bị vợ bắt”-Điểu Gia Rưng nói với chúng tôi - “Chế độ mẫu hệ là tục lệ lâu đời của dân tộc S’Tiêng và Mơ Nông. Em bị vợ bắt ở rể hơn hai năm thì đi bộ đội. Lúc ở nhà, hằng ngày em đi làm vườn để nuôi vợ và gia đình, đến thứ bảy, chủ nhật thì mới về nhà mẹ đẻ. Được cái vợ em cũng thương yêu chồng. Mấy tháng trước vợ sinh, em được đơn vị cho về đưa vợ đi bệnh viện. Con gái em nay đã được 3 tháng tuổi, mỗi khi đi tuần tra ngủ trong rừng lại thấy nhớ, thương vợ con. Nhưng vì nhiệm vụ và trách nhiệm của một người lính biên phòng, em cố gắng cùng đồng đội rèn luyện, hoàn thành nghĩa vụ để sớm về với vợ con. Em mong muốn sau này hoàn thành nghĩa vụ quân sự sẽ về địa phương làm công an xã để được gắn bó với công tác bảo vệ an ninh, trật tự nơi biên giới”. 

Ngồi trên chiếc bè lồ ô cùng những chiến sĩ trẻ và sĩ quan biên phòng xuôi trên dòng sông Đắk Huýt, trong tôi trào lên niềm thương mến, cảm phục. Hình ảnh các chiến sĩ biên phòng tuần tra trên sông, người đứng trước lái, người sau chống, đẩy bè vượt qua ghềnh thác thể hiện rõ lòng quả cảm, sự quyết tâm khắc phục khó khăn, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới. Nguy hiểm nhất là ở khúc cua khu Ba Hòn. Nơi đây có 3 hòn đá cao to nhô lên giữa dòng sông, bè dễ đâm vào dẫn đến lật bè nên mọi thao tác phải hết sức chuẩn xác. Cách khu Ba Hòn khoảng 1km, chúng tôi gặp một thác nước lớn. Các chiến sĩ với đôi tay chắc nịch khéo léo cho bè tránh mấy tảng đá rồi đổ thác. Chiếc bè như con cá khổng lồ chúi mũi xuống mặt nước chừng 1m rồi lại trồi lên. Chúng tôi đã được hướng dẫn kỹ nên mặc dù khá lo sợ nhưng vẫn vượt thác an toàn. Những thử thách này, nếu các cán bộ, chiến sĩ lái bè không có kinh nghiệm thì rất dễ bị văng người ra khỏi bè.

Ngồi nghỉ bên dòng sông Đắk Huýt, Đại úy Nguyễn Hữu Sĩ bày tỏ lo lắng khi cán bộ, chiến sĩ ở đây thỉnh thoảng vẫn bị sốt rét. Anh nói:

- Tôi mới về đây nhưng đã bị sốt rét hai lần. Mỗi cơn sốt rét kéo dài hai, ba tiếng, mồ hôi vã như tắm, người run rẩy, đầu óc quay cuồng, hai hàm răng va vào nhau cầm cập. Hết cơn sốt nóng thì chuyển sang lạnh, đắp bao nhiêu chăn vẫn thấy lạnh. Cảm giác khó chịu nhất là khi uống thuốc sốt rét xong thì mồm miệng đắng ngắt, ăn cái gì cũng đắng. Cán bộ, chiến sĩ của đồn phải quen dần với cuộc sống “3 không”: Không điện, không nước sạch, không sóng điện thoại 3G. Cánh lính trẻ nói vui với tôi, cuộc sống ở đây sang chảnh lắm, nước ăn, nước uống đều dùng nước tinh khiết đóng bình.

Dù phải đối mặt với bao nhiêu hiểm nguy, khó khăn gian khổ, nhưng sau mỗi cuộc hành quân, tuần tra bảo vệ đường biên, cột mốc, trên khuôn mặt cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Bù Gia Mập lại ánh lên niềm vui, hạnh phúc, tự hào. Mưa đến, mưa đi, lũ đến rồi lũ đi, nhưng người lính biên phòng vẫn ở lại nơi thâm sơn cùng cốc này vững vàng cùng bà con bản làng bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Phóng sự của HUY VÕ