Lần này, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (FIR) sẽ ảnh hưởng như thế nào đến nguồn nhân lực của Việt Nam và Việt Nam phải làm gì để bắt kịp các nước trong khu vực và thế giới?

Phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Năng suất Việt Nam, xung quanh vấn đề này.

Phóng viên (PV): Thưa Viện trưởng, năng suất lao động của nước ta so với các nước trong khu vực và trên thế giới hiện nay ở mức nào?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Năng suất của nước ta, cái mà xã hội hay trao đổi, thông tin hay đưa là năng suất lao động, được tính bằng Giá trị gia tăng/Số lao động. Nếu tính ở quy mô cả một quốc gia, người ta gọi là năng suất lao động xã hội (hay năng suất lao động của nền kinh tế), trong một ngành gọi là năng suất lao động của ngành, trong doanh nghiệp gọi là năng suất lao động doanh nghiệp.

Ở đây chúng ta nói về năng suất lao động xã hội. Năm 1990, năng suất lao động chỉ khoảng 2.800USD/người/năm thì đến nay là gần 9.000USD/người/năm.

leftcenterrightdel
Ông Nguyễn Anh Tuấn 

Theo số liệu của Viện Năng suất Việt Nam cùng Tổ chức Năng suất châu Á theo dõi, nếu so với những nước nhóm trên như Xin-ga-po hay Hàn Quốc, Nhật Bản, chúng ta đang rút ngắn khoảng cách đi một chút. Trước đây, năng suất của 1 người Xin-ga-po gấp chúng ta 15 lần, thì số liệu vào năm 2014, khoảng cách này là 14 lần.

Tuy đã có cải thiện nhưng điều đó chưa đủ. So với hai nhóm khác, đặc biệt là nhóm ở giữa như: In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Thái Lan là những nhóm chúng ta đang cạnh tranh chính, nhìn chung khoảng cách giữa ta và họ thay đổi không đáng kể. Thậm chí năng suất của In-đô-nê-xi-a trước kia gấp chúng ta gần 3 lần thì nay khoảng cách ấy thậm chí còn có xu hướng nới rộng ra. Với nhóm những nước như Lào, Cam-pu-chia, Mi-an-ma trước đây năng suất lao động thấp hơn Việt Nam nhưng nay đang thu hẹp nhanh khoảng cách với ta.

Một điều đáng lo ngại rằng, trong 5 năm (từ 2011 đến 2015), nhiều ngành có năng suất lao động phát triển chậm. Trong đó ngành dệt may, da giày gần như không đổi, chỉ đạt 76 triệu đồng/người/năm, trong khi rõ ràng nhu cầu của con người về những sản phẩm này ngày một lớn hơn.

PVCó thể thấy năng suất lao động của nước ta luôn nằm trong nhóm những nước thấp nhất khu vực. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến điều đó, thưa ông?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Có nhiều nguyên nhân để lý giải. Trước tiên phải xét đến đối tượng doanh nghiệp. Doanh nghiệp là đối tượng đóng góp chính cho vấn đề cải thiện năng suất của Việt Nam. Người lao động muốn có năng suất cao thì phải được trang bị tốt. Trong khi, ở phần lớn các doanh nghiệp của chúng ta hiện nay, khả năng trang bị công nghệ, thiết bị có năng suất cao cho người lao động còn rất hạn chế so với các nước trong khu vực. Mặt khác, ngay cả khi được đầu tư trang thiết bị tốt, có thể so được với khu vực thì khả năng quản trị để khai thác sử dụng vẫn kém hơn. Các doanh nghiệp Việt cũng chưa tạo ra được môi trường tốt cho người lao động để họ được toàn tâm toàn ý đóng góp công sức cho công việc.

Xét về khía cạnh nền kinh tế, chúng ta vẫn thuộc dạng quy mô nhỏ lẻ, 60% số lực lượng lao động làm việc ở những doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ và khu vực kinh tế phi chính thức. Bên cạnh đó, khả năng nghiên cứu, phát triển ra những dịch vụ, quy trình mới, sản phẩm mới của chúng ta còn hạn chế. Do đó, ở những lĩnh vực, khu vực có giá trị lợi nhuận cao chúng ta rất khó chen chân vào. Đó chính là cản trở cho việc chuyển dịch lao động từ khu vực có năng suất thấp sang khu vực có năng suất cao hơn.

Ở khía cạnh quản lý nhà nước, chúng ta đã có sự đầu tư nhưng việc quản lý, thực thi không tốt gây nên sự tốn kém nguồn lực, trong khi chưa tạo ra được sản phẩm cho xã hội, chưa tạo ra môi trường tốt cho doanh nghiệp phát triển.

PVCòn người lao động, họ có "đóng góp" gì vào kết quả này không, thưa ông?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Có chứ! Năng suất lao động thấp có nguyên nhân vừa trực tiếp, vừa sâu xa từ người lao động. Bản thân người lao động nước ta nhìn chung vẫn thiếu nỗ lực trong công việc.

leftcenterrightdel
Hệ thống máy móc tự động hóa tại Nhà máy Z111, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng. Ảnh: Văn Hạnh 

Có thể người Việt Nam thông minh, bằng chứng là chúng ta đã đạt nhiều giải thưởng, kết quả cao trong các cuộc thi quốc tế, nhưng khi bắt tay vào tổ chức một công việc sao cho hiệu quả thì thực sự chúng ta còn yếu. Theo các nghiên cứu của chúng tôi, với cùng một mức đầu tư, năng suất của một nhà máy ở Việt Nam chỉ đạt 50% so với những nhà máy ở Phi-líp-pin, Trung Quốc hay In-đô-nê-xi-a.

Tuy nhiên, không phải chúng ta thua về mọi mặt, cũng có những ngành mà chúng ta hơn. Ví dụ, trong lĩnh vực y học, bác sĩ ở các bệnh viện như Bạch Mai, Việt Đức,... một ngày có thể mổ hàng chục ca. Các bác sĩ Xin-ga-po phải phấn đấu dài mới theo kịp. Tuy nhiên có một điều nghịch lý là, các bác sĩ của ta mổ nhiều nhưng giá trị lại không cao. Ở Xin-ga-po, những ca phẫu thuật có giá lên đến hàng nghìn USD, trong khi ở Việt Nam chi phí không nhiều như vậy.

Ngoài ra, chúng ta còn có một số ngành công nghiệp có năng suất cao, bao gồm: Năng lượng, thép, hóa chất (từ 450 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/người/năm). Nhóm ngành có năng suất lao động thấp là dệt may, da giày. Dễ dàng nhận thấy những nhóm ngành có năng suất lao động cao đều sử dụng máy móc hiện đại và lao động có tay nghề cao.

PV: Ông có nhắc đến vấn đề "máy móc hiện đại và lao động có tay nghề cao" khiến tôi liên tưởng đến thuật ngữ "Cách mạng công nghiệp 4.0" đang được nhắc tới hiện nay. Xu hướng này có ảnh hưởng gì đến năng suất của nước ta, thưa Viện trưởng?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: FIR sẽ tạo ra máy móc thông minh, hệ thống, nhà máy thông minh. Lúc này, quy trình sản xuất được tối ưu, sẽ không cần nhiều lao động mà vẫn vận hành tốt. Nếu đi theo xu hướng này, chắc chắn năng suất sẽ tăng lên, thậm chí tăng rất nhiều lần.

Với tiến bộ của khoa học công nghệ, cuộc cách mạng này sẽ diễn ra rất nhanh chóng chứ không chậm như 3 cuộc cách mạng công nghiệp trước. Đây là cơ hội để nâng cao năng suất. Có thể nói, nếu chúng ta sớm tiếp cận, làm chủ được tiến bộ về khoa học công nghệ thì chúng ta đã có trong tay chiếc máy kéo sợi Gien-ni (Jenny) như trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, giúp tăng năng suất 8 lần ở thời điểm đó.

Tuy nhiên, thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam trong cuộc cách mạng này là không hề nhỏ. Một trong những yêu cầu để vận hành trong FIR là phải có những thiết bị đạt yêu cầu, trong khi hầu hết thiết bị của các doanh nghiệp nước ta đều cũ kỹ, lạc hậu.

Tôi nghĩ, nếu doanh nghiệp nào đủ điều kiện có thể tiếp cận FIR thì nên thực hiện. Hiện nay, chúng ta có nhân lực về công nghệ thông tin khá tốt. Các doanh nghiệp có thể tính đến phương án tận dụng những điều sẵn có để nâng cao năng suất. Khi đó, năng suất của Việt Nam sẽ có những bước đột phá to lớn.

PVTrong FIR, chúng ta cần phải làm gì để tăng nhanh năng suất lao động, để không bị tụt hậu so với các nước khác?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Vấn đề này cần có sự chung tay của cả xã hội. Về phía Nhà nước nên có những nghiên cứu, đánh giá để biết trong cả nền kinh tế, lĩnh vực nào có cơ hội nắm bắt được FIR ngay. Đó là vai trò cung cấp thông tin. Điều này doanh nghiệp không thể làm được. Các doanh nghiệp nếu muốn tham gia thì phải có người hướng dẫn nên bắt đầu từ đâu. Nếu ta có đội ngũ chuyên gia giỏi thì công cuộc chuyển sang FIR ở những doanh nghiệp đủ điều kiện sẽ diễn ra nhanh và hiệu quả.

Về phía doanh nghiệp, lãnh đạo doanh nghiệp phải rất chú ý đến những thông tin về xu hướng hiện nay để biết được ngành nghề của mình nên đi theo hướng nào. Thực ra, khái niệm FIR đã xuất hiện từ lâu trên thế giới và thực tế nhiều ngành nghề đã chuyển sang xu hướng này. Tuy nhiên, ở nước ta, doanh nghiệp phải chọn đúng, bước đi, đúng thời điểm. Rất có thể ngày mai sẽ xuất hiện một loại hình doanh nghiệp khác, công nghệ khác. Lãnh đạo các doanh nghiệp ở ta phải dành thời gian học hỏi những vấn đề về công nghệ, vận hành. Lãnh đạo không giỏi, không đủ năng lực sẽ không làm chủ được, hệ thống sẽ làm việc thiếu hiệu quả.

Còn với người lao động, FIR sẽ tạo ra những nghề nghiệp mới, ít vất vả hơn và chắc chắn thu nhập sẽ cao hơn. Tuy nhiên, áp lực thay đổi công việc sẽ không hề nhỏ. Do đó, người lao động cần phải làm quen với việc học hỏi, tiếp thu kiến thức mới hằng ngày. Nếu chúng ta giữ suy nghĩ sẽ làm mãi mãi một công việc mà không đào sâu, tìm hiểu, cập nhật thêm những kiến thức, thông tin, cách làm mới thì suy nghĩ đó không phù hợp với FIR. Không những thế, chúng ta còn phải chú ý đến vấn đề rất có thể hàng vạn lao động sẽ rơi vào tình cảnh thất nghiệp!

FIR còn ảnh hưởng đến chính đơn vị của chúng tôi. Đó là phải thay đổi, nghiên cứu thêm việc đánh giá năng suất, đánh giá chỉ tiêu như thế nào để phản ánh được đúng bản chất, phản ánh đúng năng suất trong thời đại mới. Nhiều lĩnh vực sắp tới không cần nhiều người lao động, ví dụ ngân hàng rất có thể sẽ không cần phòng giao dịch, mọi hoạt động đều diễn ra trên hệ thống mạng điện tử. Vì thế, nếu vẫn tính toán theo cách hiện nay, không chắc sẽ phản ánh đúng vấn đề năng suất nói riêng, về phát triển kinh tế nói chung.

PV: Trân trọng cảm ơn Viện trưởng về cuộc trò chuyện!

HOÀNG LIÊN VIỆT (thực hiện)