Phóng viên (PV): Thưa Giáo sư, hiện nay, nước ta đang ở giai đoạn nào của thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”?

GS, TS Nguyễn Đình Cử: Trong Dân số học, căn cứ vào khả năng lao động, người ta chia dân số (tất nhiên là một cách tương đối) ra làm 3 nhóm: Nhóm 1 gồm những người chưa có khả năng lao động (dưới 15 tuổi); nhóm 2: Những người có khả năng lao động (từ 15 đến 64 tuổi) và nhóm 3: Những người hết khả năng lao động (65 tuổi trở lên).

leftcenterrightdel
GS, TS Nguyễn Đình Cử. Ảnh: VŨ HẠNH

Rõ ràng sự hưng thịnh của đất nước trong thời gian hiện tại phụ thuộc vào dân số nhóm 2. Nếu một quốc gia có tỷ trọng dân số nhóm 2 đạt 66% trở lên, tức là khoảng 2/3 dân số, người ta gọi quốc gia đó có “cơ cấu dân số vàng”. Ở nước ta, năm 2007, dân số nhóm 2 đã đạt 66% và đầu năm 2017 đạt khoảng 69,3%. Như vậy, từ năm 2007, nước ta đã bước vào thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”.  

Tổng cục Thống kê dự báo thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” của nước ta kéo dài khoảng 35 năm, tức là sẽ kết thúc khoảng năm 2042. Theo những dự báo lạc quan hơn, thời kỳ này kéo dài 40-42 năm. Nghĩa là Việt Nam đã đi qua khoảng 1/4 thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”.

PV: Với hơn 69% dân số ở độ tuổi có khả năng lao động như vậy, theo Giáo sư thì đâu là những thuận lợi đối với nền kinh tế nước ta?

GS, TS Nguyễn Đình Cử: Nhu cầu và khả năng của con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng tuổi là một yếu tố quan trọng. Rõ ràng, khả năng và nhu cầu của cháu bé mới sinh khác xa người 30 hoặc 70 tuổi… Vì vậy, sự thay đổi cơ cấu dân số theo tuổi, thông qua việc chuyển từ “dân số trẻ” sang “dân số vàng” tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội ở nước ta và mang lại những cơ hội phát triển hết sức to lớn. Dưới đây chỉ đề cập một số cơ hội nổi bật.

Trước hết, “cơ cấu dân số vàng” làm tăng cả số lượng và chất lượng lao động. Về mặt số lượng, điểm nổi bật của “cơ cấu dân số vàng” là tỷ lệ “người trong độ tuổi có khả năng lao động” rất cao. Năm 2014, Việt Nam có 90,5 triệu dân. Nếu tỷ lệ dân số nhóm 2 như năm 1979, tức là 52,23% thì chỉ có 47,3 triệu người “trong độ tuổi có khả năng lao động” nhưng thực tế, tỷ lệ này là 69,4% nên cả nước có tới 62,8 triệu người thuộc nhóm 2, tăng 15,5 triệu người hay gần 33% so với số liệu giả định (15,5 triệu so với 47,3 triệu)! Đây là “dư lợi” rất lớn do “cơ cấu dân số vàng” mang lại, có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hơn nữa, khoảng một nửa dân số trong độ tuổi lao động dưới 34 tuổi, thuận lợi cho việc tiếp thu khoa học, kỹ thuật và linh hoạt trong chuyển đổi nghề. Theo tính toán của chúng tôi, trong 10 năm (2009-2019), bình quân hằng năm “cơ cấu dân số vàng” đóng góp 1,2% vào tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.

leftcenterrightdel
Nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học sẽ góp phần tạo việc làm và nâng cao năng suất lao động cho người dân. Trong ảnh: Sinh viên học tập tại Thư viện Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Ảnh: LIÊN VIỆT

Về mặt chất lượng lao động, thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” do tỷ lệ dân số nhóm 2 và nhóm 3 tăng lên nên tỷ lệ trẻ em giảm xuống, thậm chí giảm tuyệt đối. Năm 1979, trẻ em (5-14 tuổi) chiếm 28% tổng dân số, năm 2014 chỉ còn 15,6%. Điều này mở ra cơ hội lớn giảm tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng và nâng cao chất lượng giáo dục. Mặc dù tỷ lệ nhập học tăng lên nhưng so với “năm học đỉnh điểm”, số học sinh tiểu học năm học 2016-2017 đã giảm khoảng 2,4 triệu em, còn học sinh trung học cơ sở giảm khoảng 1,4 triệu em. Kết quả này giảm sức ép về dân số, cải thiện nhiều chỉ tiêu trong ngành giáo dục, tạo điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục. Giáo dục phổ thông phát triển góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tương lai.

PV: Thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” cũng đặt ra không ít thách thức đối với sự phát triển đất nước hiện nay và những thập niên tới. Những thách thức đó là gì, thưa Giáo sư?

GS, TS Nguyễn Đình Cử: Trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”, dân số nhóm 2 của nước ta có năm đạt tới 72 triệu người. Thách thức thứ nhất là bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho hàng chục triệu người trong “độ tuổi có khả năng lao động” nói trên. Nếu trong độ tuổi này nhưng ốm đau, bệnh tật, tai nạn, thương tích, không có khả năng lao động thì không đóng góp tích cực cho phát triển, thậm chí ngược lại. Mỗi năm, nước ta có tới hàng trăm triệu lượt người khám, chữa bệnh tại bệnh viện, trung tâm y tế và phòng khám đa khoa. Đó là chưa kể số lượt người khám, chữa bênh tại các trạm y tế xã/phường. Trong đó có rất nhiều người khuyết tật trong độ tuổi 16-60. Tai nạn thương tích mỗi năm cũng có hàng chục nghìn vụ,…

Thách thức thứ hai là tạo đủ việc làm cho những người “có khả năng làm việc”. Nếu người “có khả năng làm việc” lại thất nghiệp hoặc không đủ việc làm thì “cơ cấu dân số vàng” cũng không có ý nghĩa gì. Việc bảo đảm cho khoảng 65-70 triệu người trong độ tuổi lao động có đủ việc làm là một thách thức lớn ở quốc gia nông nghiệp nhưng đất chật, người đông, nguồn lực đầu tư trong nước hạn chế như Việt Nam.

Thách thức thứ ba là nâng cao năng suất lao động. Nếu có việc làm nhưng năng suất, thu nhập thấp, đất nước khó tránh được “bẫy thu nhập trung bình”, mức sống nhân dân khó cải thiện. Đáng tiếc là năng suất lao động xã hội của Việt Nam đang rất thấp. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), năm 2014 chỉ tiêu này của Việt Nam bằng 1/15 của Singapore, bằng 1/5 so với Malaysia và 2/5 so với Thái Lan. Do đó, nâng cao năng suất lao động là thách thức lớn nhất trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” ở Việt Nam.

Đặc điểm hiện nay của dân số nước ta là “cơ cấu dân số vàng” song hành cùng quá trình già hóa nhanh. Người cao tuổi ở nước ta chủ yếu sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp. Thế hệ người cao tuổi hiện nay trải qua chiến tranh và nghèo khó về kinh tế, vì vậy, sức khỏe kém và không có tích lũy cho tuổi già. Do đó, bảo đảm an sinh xã hội cho hàng chục triệu người cao tuổi là bài toán, là thách thức ngày càng lớn ở Việt Nam.

PV: Tận dụng hiệu quả “cơ cấu dân số vàng”, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số... để góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững là những mục tiêu đã được đặt ra trong Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) ban hành mới đây. Vậy theo Giáo sư, trong những năm tới, chúng ta cần phải làm gì để phát huy tốt nhất “cơ cấu dân số vàng”?

GS, TS Nguyễn Đình Cử: Để vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội của thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” nhằm phát triển đất nước, trước hết cần bảo đảm “người trong độ tuổi lao động” có đủ sức khỏe bảo đảm khả năng lao động. Muốn vậy, cần thực hiện tốt Nghị quyết số 20/NQ-TW của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

Hai là, tập trung nguồn lực đầu tư, tạo đủ việc làm cho “người có khả năng lao động”. Cần tiết kiệm, hạn chế tiêu dùng xa xỉ, nâng cao tích lũy, đầu tư, thu hút đầu tư từ nước ngoài và đầu tư hiệu quả, tạo đủ việc làm cho “người có khả năng lao động”. Hiện nay, tuổi bước vào hoạt động kinh tế cao hơn, tuổi thọ cao hơn nhiều so với cách đây 30 năm. Do đó, cần có chính sách giúp người ở tuổi về hưu tiếp tục làm việc phù hợp, nếu họ có nhu cầu và còn khả năng.

Ba là, thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu lao động theo hướng hiện đại, khuyến khích di cư nông thôn-đô thị, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật của lao động để người có việc làm có năng suất cao.

Hiện nay, lao động vẫn còn tập trung trong các ngành có năng suất thấp nhất. Trong số lao động 15 tuổi trở lên có việc làm, 40,7% làm việc ở khu vực nông, lâm, ngư nghiệp (ở Singapore, tỷ lệ này là 0,9%). Mặt khác, tỷ lệ lao động có đào tạo còn thấp và mất cân đối. Hiện mới có 18% dân số 15 tuổi trở lên có trình độ chuyên môn, kỹ thuật sơ cấp trở lên. Trong đó, 7,3% có trình độ đại học trở lên, nhưng số có trình độ sơ cấp lại chỉ có 1,8%. Vì vậy, cần thúc đẩy dịch chuyển lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, dịch vụ. Theo đó, thay vì hạn chế, cần khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho dòng di cư nông thôn-đô thị diễn ra trôi chảy.

Mặt khác, cần đầu tư vào nông nghiệp để bảo đảm rằng dù lao động được rút bớt nhưng sản lượng không giảm, thậm chí tăng lên. Cũng cần huy động, khuyến khích mọi thành phần tham gia phát triển đào tạo chuyên nghiệp theo hướng “thắt chặt đầu vào”, nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học, sau đại học, mở rộng đào tạo cao đẳng, sơ cấp. Khuyến khích các trường đại học ít sinh viên và khó tuyển sinh chuyển sang đào tạo cao đẳng, trung sơ cấp, công nhân kỹ thuật. Khuyến khích mọi người có việc làm hướng tới năng suất và thu nhập cao.

Như vậy, chỉ có “3 nâng cao” (nâng cao tỷ lệ những người “trong độ tuổi lao động” có khả năng làm việc; nâng cao tỷ lệ “những người có khả năng làm việc” có việc làm và nâng cao tỷ lệ “những người có việc làm” làm việc có năng suất cao) mới tận dụng được cơ hội “cơ cấu dân số vàng”.

Các nhà khoa học đã phát hiện “cơ cấu dân số vàng” ở nước ta. Mỏ vàng không khai thác thì còn, “cơ cấu dân số vàng” không khai thác thì sẽ mất. Vì vậy, cần khẩn trương tận dụng cơ hội quý hiếm này để phát triển nhanh và bền vững đất nước.

PV: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

HÀ THANH MINH (thực hiện)