Ông cùng các cộng sự đã nghiên cứu và ứng dụng thành công một số công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp như: Công nghệ khí canh trong nhân giống cây trồng, đặc biệt là sản xuất cây và củ giống khoai tây sạch bệnh; công nghệ thủy canh trong sản xuất rau sạch...

Phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS, NGND Nguyễn Quang Thạch, nguyên Phó hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam), Phó chủ tịch Hội Các ngành sinh học Việt Nam, Viện trưởng Viện Sinh học nông nghiệp, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành... về vấn đề phát triển nông nghiệp sạch ở nước ta.

Phóng viên (PV): Thưa Giáo sư, trong các bữa cơm hằng ngày, gia đình Giáo sư có quan tâm nhiều đến những câu chuyện về rau an toàn, rau sạch?

GS, TS, NGND Nguyễn Quang Thạch: Vấn đề an toàn thực phẩm thời gian gần đây đang nóng lên được toàn thể cộng đồng xã hội quan tâm. Hằng ngày có nhiều ca ngộ độc thực phẩm, nhiều người bị bệnh ung thư do môi trường sống bị ô nhiễm kết hợp với sự nhiễm độc từ các chất dinh dưỡng, thực phẩm, nước uống đưa vào bên trong cơ thể. Mọi người đều cảm thấy lo lắng, không tin tưởng độ an toàn của nhiều loại thực phẩm, nhất là rau, củ, quả… Trong bữa ăn hằng ngày, các thành viên trong gia đình tôi cũng rất trăn trở, không biết ăn gì cho an toàn. Mình lớn tuổi rồi, nhưng còn các cháu thì sao? Các cháu còn quá nhỏ, nếu ăn uống không bảo đảm an toàn thì sức khỏe các cháu sau này sẽ ra sao? 

 PV: Rau như thế nào thì bị coi là sản phẩm không an toàn, thưa Giáo sư?

GS, TS, NGND Nguyễn Quang Thạch: Thế hệ ông cha ta trước đây ở nông thôn hầu như không sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu trong sản xuất rau. Nếu có bón phân thì chỉ sử dụng nước ao, hồ pha với nước giải đã ủ “ngấu” với liều lượng rất thấp để tưới. Rau xanh tốt nhưng không dư thừa các chất gây độc. Trong mấy thập kỷ vừa qua, sự phát triển vượt bậc của lĩnh vực phân bón hóa học và thuốc hóa học bảo vệ thực vật đã giúp cho nông nghiệp có những mùa màng bội thu. Tuy nhiên, không ít người quá lạm dụng phân hóa học, đặc biệt là phân đạm (chứa Nitơ) làm cây tăng trưởng rất mạnh, thân lá xanh tốt nhưng chứa nhiều dư lượng Nitrat. Cây càng xanh tốt càng hấp dẫn bướm tới đẻ trứng nở ra sâu. Sâu nhiều lại phải phun thuốc trừ sâu và gây độc cho rau. Chúng ta đi vào một vòng luẩn quẩn, vừa tạo ra sản phẩm không an toàn vừa gây ô nhiễm môi trường, độc hại cho cả người sản xuất lẫn người tiêu thụ. 

leftcenterrightdel

GS, TS, NGND Nguyễn Quang Thạch. 

“Rau an toàn” là rau có chứa các chất sau đây không được vượt quá tiêu chuẩn cho phép: Dư lượng thuốc hóa học bảo vệ thực vật; số lượng vi sinh vật gây bệnh và ký sinh trùng; dư lượng đạm Nitrat (NO3); dư lượng các kim loại nặng (chì, thủy ngân, asen, kẽm, đồng...). Rau chứa dư lượng thuốc hóa học trừ sâu bệnh quá ngưỡng là nguyên nhân gây độc nguy hiểm nhất. Thuốc diệt được sâu thì cũng là thuốc độc giết người. Người nông dân dùng thuốc hóa học trừ sâu luôn muốn sử dụng các loại thuốc cực độc để diệt sâu nhanh nhưng đã làm rau trở nên rất độc nếu sử dụng khi chưa hết thời gian cách ly (thường là hai tuần) khi dư lượng thuốc trong rau còn cao. Có một số loại rau ăn quả như đậu đũa, dưa chuột, cà chua… thường phải thu hoạch nhiều lần. Khi phun thuốc để phòng sâu bệnh cho quả non thì lại gây nhiễm cho quả già bên cạnh đã đến ngày thu hoạch. Do đó, việc tuân thủ các quy định về sử dụng thuốc hóa học trừ sâu bệnh có vai trò rất quan trọng trong sản xuất rau an toàn.

Nguyên nhân thứ hai làm rau không an toàn là do người sản xuất dùng phân hữu cơ, nhất là phân bắc chưa hoai mục để bón rau hoặc dùng nước thải để tưới khiến rau rất xanh tốt nhưng bị nhiễm các loại vi sinh vật gây bệnh như: Vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy, kiết lỵ, thương hàn... và các loại ký sinh trùng như trứng giun, sán… Điều này nguy hiểm trên các loại rau ăn sống (xà lách, rau thơm...). Nguyên nhân thứ ba làm rau không an toàn là do rau được bón quá nhiều đạm hóa học dẫn đến dư lượng Nitrat tích lũy trong rau vượt quá ngưỡng quy định. Khi ăn vào cơ thể, Nitrat sẽ chuyển hóa thành Nitrit, chất này có thể kết hợp với các chất chứa amin trong cơ thể trở thành chất có thể gây ung thư. Thứ tư, rau không an toàn còn do trồng gần các khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp, nguồn nước tưới bị ô nhiễm khiến rau nhiễm một số kim loại nặng như: Thủy ngân, asen. Các chất này gây ra nhiều bệnh mãn tính nguy hiểm.

Để có những sản phẩm rau an toàn, người sản xuất cần phải tránh những yếu tố gây độc hại nói trên.

PV: Được biết, Giáo sư đã dành nhiều thời gian nghiên cứu và ứng dụng công nghệ khí canh trong việc tạo ra giống khoai tây, nhiều giống cây, hoa sạch bệnh khác và đặc biệt là ứng dụng thành công công nghệ thủy canh vào sản xuất rau sạch. Giáo sư có thể cho biết những ưu điểm của công nghệ này?

GS, TS, NGND Nguyễn Quang Thạch: Thủy canh (hydroponics) là công nghệ trồng cây không dùng đất mà trồng trực tiếp vào dung dịch dinh dưỡng hoặc bằng giá thể có tưới dung dịch dinh dưỡng. Công nghệ này có một số ưu điểm như: Không cần đất, có thể trồng rau trên mặt sàn, trong hộp, ống bịch, giá thể nên tiết kiệm được diện tích, nước tưới, ít cỏ dại, ít sâu bệnh, không mất thời gian làm đất và làm cỏ, có thể trồng liên tục được (một năm khoảng 7-9 vụ) vì cây sinh trưởng nhanh, tổng thời gian từ lúc gieo hạt đến khi thu hoạch được rút ngắn (khoảng 45 ngày), việc tưới cũng tiến hành bằng hệ thống hoàn toàn tự động vì thế mà tốn ít nhân công hơn, nông dân đỡ vất vả mà năng suất lại cao hơn so với sản xuất trên đồng ruộng. Quan trọng hơn là sản phẩm rau rất an toàn vì trồng bằng dung dịch có đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng, không tồn dư các chất gây độc; không bón phân tươi nên tránh được các vi sinh vật và ký sinh trùng gây bệnh; cây trồng trong nhà lưới nên không bị bướm xâm nhập đẻ trứng tạo sâu nên không phải phun thuốc trừ sâu.

leftcenterrightdel

GS, TS, NGND Nguyễn Quang Thạch và các học viên kiểm tra khu vực thử nghiệm trồng rau theo công nghệ thủy canh tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Ảnh: PHÚC ANH 

Công nghệ thủy canh đã được giới thiệu vào Việt Nam từ năm 1995, nhưng mới được áp dụng ở quy mô sản xuất hàng hóa khoảng 3-5 năm gần đây ở Đà Lạt và một số tỉnh phía Nam. Công nghệ này cho phép trồng được nhiều loại rau ăn lá và quả như: Xà lách, rau muống, rau dền, cần tây, cải các loại, cà chua, dưa chuột, mướp đắng, dưa lưới... Năng suất của rau trồng thủy canh cao hơn trồng trên đất nhiều lần. Tại Đà Lạt, cây xà lách cùng giống trồng trên đất chỉ đạt 80-100g, trong khi trồng thủy canh có thể đạt 250-300g. Chất lượng rau cũng ngon không kém rau truyền thống. Theo tính toán sơ bộ, một nhà trồng rau 500m2 sau một vụ trồng xà lách (50 ngày) cho thu lãi khoảng 13 triệu đồng.

Hiện nay, chúng tôi đang nghiên cứu để hoàn thiện các hệ thống và quy trình sản xuất rau theo công nghệ thủy canh ở quy mô lớn cũng như quy mô hộ gia đình với những thiết bị tốt hơn nhưng có giá thấp hơn để người dân có thể áp dụng dễ dàng. Mỗi nhà có thể có giàn trồng rau sạch thủy canh.

PV: Theo Giáo sư thì việc sản xuất rau sạch, rau an toàn ở nước ta hiện nay còn có những bất cập gì?

GS, TS, NGND Nguyễn Quang Thạch: Đã có nhiều vùng, nhiều cơ sở sản xuất khá thành công với rau sạch, rau an toàn. Tuy nhiên, người sản xuất còn gặp không ít khó khăn. Người dân đầu tư nhiều công sức, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, sản xuất rau bảo đảm chất lượng nhưng khó tiêu thụ hoặc bán với giá rẻ như các loại rau không an toàn, điều đó khiến cho người sản xuất dễ bị nản. Bất cập khác là đâu đó vẫn có những người nông dân có thể vì lợi nhuận hoặc nhận thức chưa đầy đủ mà bỏ qua một số quy định khiến cho sản phẩm rau chưa thực sự bảo đảm an toàn, điều này cũng làm ảnh hưởng đến các thương hiệu rau an toàn nói chung.

PV: Để phát triển một nền nông nghiệp công nghệ cao, xanh, sạch, bền vững, theo Giáo sư, nước ta cần có những giải pháp nào?

GS, TS, NGND Nguyễn Quang Thạch: Tôi nghĩ rằng, để phát triển một nền nông nghiệp xanh, sạch, bền vững theo hướng công nghệ cao trước hết phải xuất phát từ ý thức của cả cộng đồng, là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần phải xác định phát triển nông nghiệp sạch là một xu hướng tất yếu đối với sự phát triển kinh tế đất nước và đời sống xã hội. Các nhà sản xuất thì phải có ý thức trách nhiệm làm sao sản xuất ra những sản phẩm sạch, chất lượng cao để vừa phục vụ tiêu dùng vừa xuất khẩu.

Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ toàn diện từ các nhà khoa học, doanh nghiệp đến người nông dân. Cần tạo điều kiện tốt để các nhà khoa học nghiên cứu công nghệ tiên tiến ứng dụng vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Không nên quan niệm công nghệ cao là phải rất hiện đại, tốn kém mà phải là công nghệ phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của từng vùng miền. Công nghệ cao phải đem lại hiệu quả kinh tế cao. Đối tượng áp dụng là các sản phẩm có nhu cầu bức xúc và có đầu ra thuận lợi. Đối với doanh nghiệp và người nông dân, cần có sự hỗ trợ để tìm kiếm khách hàng tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi.

Việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học cũng là một giải pháp rất quan trọng để phát triển nền nông nghiệp sạch, vì nó không độc hại đối với người sử dụng và thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì thuốc trừ sâu sinh học cũng có những nhược điểm nhất định như hiệu lực diệt sâu bệnh chậm và không cao, dễ bị phân hủy. Do đó, người dùng cần phải rất kiên trì, bền bỉ trong quá trình sử dụng để bảo vệ sức khỏe của mình và cộng đồng. Tôi cho rằng, không có một nền nông nghiệp nào hoàn toàn không sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu mà quan trọng là phải dùng đúng lúc, đúng thuốc, đúng liều lượng và tuân thủ đúng thời gian cách ly trước thu hoạch để bảo đảm an toàn cho sản phẩm.

PV: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

GS, TS, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Quang Thạch sinh năm 1943 tại phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội; nguyên Phó hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (nay là Học viện Nông nghiệp Việt Nam). Hiện nay, ông là Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Sinh học nông nghiệp (Học viện Nông nghiệp Việt Nam); Viện trưởng Viện Sinh học nông nghiệp kiêm Trưởng khoa Công nghệ sinh học và Nông nghiệp công nghệ cao (Trường Đại học Nguyễn Tất Thành); Phó chủ tịch Hội Các ngành sinh học Việt Nam; Chủ tịch Hội Sinh lý thực vật Việt Nam… 

HÀ THANH MINH (thực hiện)