Chúng tôi gọi điện, báo đang đứng trước cổng nhà ông. "Trời, đến chơi hổng báo trước, tôi đang đi thăm bạn bè...". Ông la vậy, nhưng chỉ 30 phút sau đã xuất hiện. Vẫn lối nói chuyện tự nhiên, hóm hỉnh và sắc lẹm, ông quả là ông lão có duyên già! "Vậy chớ nhà báo muốn hỏi gì, bà vợ tôi mới bị té đang đau nên nói nhỏ thôi nghe...".

Phóng viên (PV): Nhân chuyện của bà nhà, nghe nói ông bà là một "thiên tình sử" đậm màu cổ tích, bặt tin nhau gần 30 năm mà vẫn một lòng một dạ hướng về nhau. Chuyện là thế nào, thưa ông?

Đại tá Nguyễn Văn Tàu: Năm 1946, tôi lấy vợ. Năm ấy, tôi 18 tuổi, vợ 17 tuổi. Tôi và vợ cùng quê Bà Rịa-Vũng Tàu nhưng tôi sinh ra và lớn lên tại làng Long Phước, thị xã Bà Rịa, còn nhà vợ tôi sống tại một làng ven biển thuộc huyện Đất Đỏ. Chúng tôi lấy nhau theo sự sắp đặt của cha mẹ. Vài tháng sau ngày cưới, bà ấy có mang. Nhưng cũng vào năm đó, giặc Pháp tràn về, gây bao đau thương, căm hận cho mọi nhà. Tôi nói với bả: “Anh phải vào chiến khu đánh giặc cùng với anh em. Em sắp xếp lên Sài Gòn làm ăn, sinh con và đợi anh về nhé!”.

Bả lặng thinh không nói một lời. Đến khi tôi đưa tay vuốt ve gương mặt vợ thì những dòng nước mắt bả đã tuôn trào tự lúc nào. Tôi cũng không ngờ, từ lần chia tay ấy, phải đến năm 1975, chúng tôi mới "đường đường chính chính" được gặp lại nhau.

Đó là những tháng ngày dài đằng đẵng xa cách. Xa cách ghê gớm... Tôi vào Chiến khu Minh Đạm ở tỉnh nhà tham gia đánh giặc, còn vợ lặn lội lên Sài Gòn học đánh máy chữ, làm thư ký. Rồi vợ tôi sinh hạ cô con gái, đặt tên là Nhồng (cũng là người con duy nhất của ông bà-PV). Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, quân Pháp rút về nước. Chưa kịp về gặp vợ thì tôi nhận lệnh lên đường ra Bắc tập kết. Trước lúc đi, tôi nhận được quà của vợ gửi là phong thư, tấm hình của con gái và chiếc áo len. Trong thư có đoạn bả viết: “Do gia đình bị giặc kiểm soát gắt nên em không ra tiễn anh được. Thôi thì đời vợ chồng mình như những năm qua. Ngoài Bắc lạnh lắm, em đan cho anh chiếc áo len này mặc cho ấm”.

Giữa năm 1961, tôi được cử trở về miền Nam bắt đầu tham gia kháng chiến chống Mỹ. Tưởng rằng vợ chồng sẽ được đoàn tụ sau 15 năm xa cách, nhưng vì nhiệm vụ bí mật nên tôi không được gặp mặt vợ con. Thời gian này, tôi tham gia chiến đấu tại chiến trường Tây Ninh. Sau đó, được cấp trên giao trọng trách quan trọng, giữ chức vụ Cụm trưởng Cụm tình báo H.63, nơi có hai điệp viên quan trọng đang hoạt động trong lòng địch ở Sài Gòn là Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn) và Tám Thảo (Nguyễn Thị Yên Thảo). 

leftcenterrightdel
Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Tàu. Ảnh do nhân vật cung cấp 

Lúc bấy giờ, tôi làm nhiệm vụ chỉ huy, tổ chức nhận tin tức từ hai điệp viên trên và đưa ra khỏi thành, từ đó chuyển về cho cấp trên. Cụm tình báo do tôi chỉ huy đóng tại địa đạo Củ Chi. Dù cận kề Sài Gòn và biết nơi ở của vợ con nhưng vì yêu cầu giữ bí mật-nguyên tắc cao nhất của nghề tình báo-nên tôi không thể gặp vợ con, mọi liên lạc đều thông qua đội ngũ giao liên. Về sau, tình hình trở nên căng thẳng, cấp trên chỉ đạo tôi phải vào thành hoạt động phối hợp cùng điệp viên.

Thời gian vào thành hoạt động, đôi lần tôi nhờ giao liên gọi vợ ra Thảo Cầm Viên gặp mặt. Nhớ quá thì phải làm vậy, chớ làm vậy thì nguy hiểm cho cả tôi và vợ. Tôi tính toán ghê lắm, đi ô tô buýt ra sở thú, hiệp đồng trước với vợ ở vị trí con thiên nga. Khi vợ tôi vừa đi tới thì tôi cũng đi tới, giờ giấc thật chuẩn khít, bắt chuyện như người dưng tình cờ gặp nhau. Vợ chồng chỉ dám trò chuyện dăm ba phút rồi lại chia tay chứ không dám ngồi lâu, càng không dám có những cử chỉ thân mật vì sợ tai mắt của địch phát hiện. Cuối năm 1973, trước lúc ra miền Bắc học tập, tôi nhờ người giao liên hẹn vợ đến bờ sông Thị Tính, Chiến khu Nam Bến Cát. Lúc chia tay, vợ tôi khóc nức nở, không biết ngày nào gia đình đoàn tụ. Ngày 30-4-1975 lịch sử, lúc đó tôi là Chính ủy Lữ đoàn Đặc công biệt động 316, đơn vị đi đầu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Sau khi cắt cử người trông coi Dinh Độc Lập (nhiệm vụ của đơn vị), đến 23 giờ, tôi lái chiếc xe Jeep thu được của một tên trung tá ngụy phóng một mạch về khu phố nhỏ ở Thị Nghè, nơi sinh sống của vợ con. Đứa con gái đã 28 tuổi, ẵm đứa cháu ngoại lên ba ra nói bập bẹ chào ông ngoại. Thật là một đêm ngập tràn hạnh phúc sau mấy mươi năm xa cách.

PV: Trong cuộc đời tình báo, vợ chồng xa cách không hẹn ngày gặp lại, nhưng ông bà vẫn dành cho nhau tình cảm sắt son thật đáng ngưỡng mộ. Xin hỏi thật ông, trong thời gian xa cách, có bao giờ ông băn khoăn, suy nghĩ về người vợ của mình không? Đã có nhiều người do hoàn cảnh đưa đẩy, nên không thể chờ chồng, nuôi con như bà nhà? Hoặc bà nhà có lo lắng về ông không, vì ông có ngoại hình vốn rất phong độ, lại nhiều tài lẻ, như tài bắn súng "bách phát bách trúng" bằng cả hai tay...

Đại tá Nguyễn Văn Tàu: Băn khoăn, suy nghĩ thì nhiều, nhiều lắm chớ. Nhưng chúng tôi không bao giờ nghi ngờ về người kia, không bao giờ phụ nhau. Niềm tin lớn lắm, vợ chồng mà, hổng có cái đó thì hổng còn gì. Câu hỏi này đã có người hỏi tôi rồi, tôi bảo thằng đàn ông mà hổng có tin vợ mình, thì cũng không là gì. Phải không?

Còn chuyện bắn súng. Ờ thì mình bắn cũng tàm tạm, người ta quý thì đồn thổi lên thôi. Năm 1954 tôi tập kết ra Bắc, ở Sư đoàn 338, trên đường Xuân Mai đi Hòa Bình. Sư đoàn tổ chức hội thao bắn súng, tôi chỉ bắn thua đồng chí Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, vốn là một xạ thủ có tiếng. Năm 1957, đợt đầu tiên Bộ Quốc phòng phong quân hàm, tôi được phong hàm Thượng úy, là Chính trị viên Đại đội Thông tin của sư đoàn, lại được lựa vào đội tuyển bắn súng đi thi toàn quân. Đội tuyển tập trung xuống Quân khu 3 tập luyện nửa tháng. Tôi được vào bắn với ba kiện tướng của quân đội là: Trần Oanh, Trần Minh, Hồ Xuân Kỷ. Họ là bậc thầy của Trường Sĩ quan Lục quân nên có kỹ thuật tuyệt vời. Buổi sáng, chúng tôi ra thao trường tập bắn, tối vào hội trường rút kinh nghiệm. Khi đó, tôi cũng là tay súng có hạng nhưng xin nghỉ không đi thi đấu để luyện tập bắn tay trái. Tôi nghĩ, sau này vào Nam đi làm tình báo có rủi tay phải bị thương thì phải bắn được bằng tay trái. Sau một thời gian tập luyện, hai tay bắn một mười, một chín. Rồi tôi tự học thêm chụp ảnh, rửa ảnh, quay phim, phóng hình. Tôi mua cái máy ảnh của Đức, lúc đó giá 400 đồng về mày mò nghiên cứu. Tranh thủ thời gian tôi lấy xe mô tô 500 phân khối, xe thông tin, xe Jeep tự tập lái...

Đó, những cái tài lẻ của tôi đều là do tự luyện, vì nhiệm vụ mà cố gắng luyện. Ngày đó, làm tình báo mà biết nhiều thứ như vậy thì đồng đội, anh em phục lắm.

PV: Cụm tình báo H.63 với điệp viên Phạm Xuân Ẩn được ví như "điệp viên hoàn hảo", còn ông vốn nổi tiếng là người chỉ huy mưu trí, đầy bản lĩnh nhưng trong rất nhiều cuộc trò chuyện với báo chí, ông chưa bao giờ kể về những mưu mẹo giúp ông giữ vững được lưới tình báo của mình trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Hôm nay, nhân dịp Xuân mới, ông có thể kể một chút kỷ niệm xưa được không?

Đại tá Nguyễn Văn Tàu: Tình báo cách mạng thì phải dựa vào dân, vì dân mà hoạt động. Đó là kinh nghiệm, là mưu mẹo lớn nhất, hay nói cách khác, đó là đại kế. Cho nên, làm tình báo phải biết dân vận. Hồi tôi đi học tình báo, bài tập tốt nghiệp của tôi hoàn thành cũng là bài tập về dân vận. Tôi được giao làm mẫu bài tập cắt đuôi địch theo dõi trong địa bàn thành phố. Vì thế, địa điểm "thi tốt nghiệp" của tôi là thành phố Hà Nội. Theo đầu bài tập, 14 giờ tôi có mặt ở Cột cờ Hà Nội cầm một tờ báo để các chiến sĩ công an mật nhận dạng, theo dõi. Nhiệm vụ của tôi là 17 giờ phải đưa thư an toàn đến chân cầu Long Biên. Nguyên tắc là cắt đuôi hết người theo dõi mới đưa thư. Nếu bị phát hiện hoặc đến muộn là không hoàn thành nhiệm vụ. Đúng 14 giờ tôi đi xe đạp đến Cột cờ, hút thuốc để người theo dõi nhận diện rồi bắt đầu đi. Đạp xe theo đường Cát Linh, tôi muốn cắt đuôi nên đột ngột xuống xe sửa lại dây buộc giày xem có ai theo dõi không, rồi đi luồn trong chợ lựa đồ, thực chất là để quan sát người xung quanh. Tôi vận dụng trí nhớ, xem người theo mình lúc trước còn bám theo không. Tới khu phố Khâm Thiên, tôi bước vào con ngõ, quan sát phía sau có hai người bám trước và sau, "chặn đầu và khóa đuôi cái ngõ". Họ ngồi canh hai đầu đó vì nghĩ tôi không còn đường thoát. Đến lúc đó tôi đếm đã cắt được ba người, chỉ còn hai người này nữa. Tôi liền lẻn vào một gia đình mà chiều hôm trước, tôi đã giả làm một công nhân đến xin tắm nhờ. Nhờ khéo dân vận, ông chủ nhà tin tưởng còn mời ăn cơm tối. Do chuẩn bị trước nên vào nhà là tôi cởi đồ ra, thay đồ công nhân, bôi mặt đen một chút. Lấy chiếc xe rùa than gửi từ hôm trước, tôi đẩy ra, đi ngang qua một người theo dõi, tôi còn nói: “Nhờ anh phụ tôi một tay”. Thoát ra khỏi con hẻm, tôi thuê xích lô chạy ra đê sông Hồng, gần cầu Long Biên. Lúc đó là 17 giờ kém 10 phút, một tốp cán bộ công an và tình báo đang đứng đợi. Tôi xuống xe đi tới mà mấy ông không nhận ra. Tôi nói: “Tới rồi mấy ông”. Anh em học viên tình báo mừng quá, kéo tôi về Bờ Hồ khao bữa bia xả láng.

Đó, bài học dân vận giúp tôi rất nhiều, đặc biệt là dịp khi được cấp trên điều động vào Sài Gòn tổ chức lưới tình báo nắm thông tin trận đánh Mậu Thân năm 1968 và những năm về sau.

PV: Xin cảm ơn ông về câu chuyện rất thú vị hôm nay!

PHẠM VĂN TUẤN (thực hiện)