Phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần có cuộc phỏng vấn TS Nguyễn Trung Kiên, Trưởng Bộ môn Nghiên cứu thị trường và ngành hàng, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông thôn, người đã trực tiếp tham gia soạn thảo đề án.

Phóng viên (PV): Trong khoảng một thập kỷ gần đây, năng lực tự túc lương thực cùng xu hướng bảo hộ ngày càng tăng của các quốc gia vốn là bạn hàng nhập khẩu gạo truyền thống của Việt Nam như: Trung Quốc, Phi-líp-pin (Philippines), In-đô-nê-xi-a (Indonesia)... đã buộc chúng ta phải điều chỉnh chính sách sản xuất và xuất khẩu gạo theo hướng giảm sản lượng, tăng chất lượng. Nhưng vì sao lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng, thưa ông?

TS Nguyễn Trung Kiên: Có hai yếu tố tác động tới tăng trưởng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường truyền thống. Thứ nhất, mặc dù các bạn hàng truyền thống của ngành gạo Việt Nam đặt ra mục tiêu tự cung tự cấp lương thực, nhưng yếu tố thời tiết, đất canh tác nông nghiệp suy giảm và tăng trưởng dân số tại các thị trường mới tiếp tục là những yếu tố khách quan làm tăng xuất khẩu loại gạo chất lượng trung bình từ Việt Nam. Chu kỳ ngắn lại và tần suất tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan làm tăng rủi ro nguồn cung nội địa tại các nước như: Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a. Đô thị hóa và ô nhiễm môi trường đất, nước làm giảm diện tích canh tác đất nông nghiệp tối ưu tại các nước, như Trung Quốc. Tăng trưởng dân số duy trì ở mức cao trong giai đoạn 2015-2025 tại các thị trường mới nổi như tại khu vực cận Xa-ha-ra (Sahara).

leftcenterrightdel

Tiến sĩ Nguyễn Trung Kiên.

Thứ hai, bất chấp xu hướng bảo hộ ngày càng tăng, như vấn đề kiểm soát nhập khẩu gạo của Trung Quốc, gạo vẫn là lương thực thiết yếu tại châu Á và sắp tới sẽ là châu Phi. Khi thu nhập của người dân châu Phi tăng, họ chuyển từ các loại ngũ cốc như sắn, hạt kê sang gạo. Mặc dù nhu cầu gạo chất lượng cao sẽ tăng lên cùng với thu nhập, nhưng các yếu tố trên sẽ tiếp tục duy trì nhu cầu đối với gạo chất lượng trung bình như hiện Việt Nam đang cung ứng.

PV: Một trong những mục tiêu tổng quát của Đề án tái cấu trúc ngành hàng lúa gạo Việt Nam giai đoạn 2020 tầm nhìn 2030 là duy trì và sử dụng linh hoạt 3,8 triệu héc-ta diện tích đất trồng lúa để bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Theo ông, cần những giải pháp nào để có thể thực hiện thành công mục tiêu này?

TS Nguyễn Trung Kiên: Để duy trì và sử dụng linh hoạt đất lúa nhưng vẫn bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đòi hỏi phải xây dựng và triển khai chương trình hiện đại hóa ngành lúa gạo, tập trung mạnh mẽ vào các mô hình sản xuất quy mô lớn (hợp tác xã, cánh đồng lớn), chuyển đổi sang sử dụng giống chất lượng cao, phương pháp canh tác hiện đại, phát triển công nghiệp chế biến, bao gồm cả chế biến tinh, chế biến sâu, chế biến phụ phẩm từ lúa gạo. Phối hợp nhuần nhuyễn giữa hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước, đầu tư theo hình thức đối tác công-tư cho hạ tầng và thiết bị, với các công cụ tín dụng, tài chính mới (biên nhận lưu kho, bảo lãnh tín dụng…) để nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp có nguồn vốn đầu tư đủ lớn vào nâng cấp công nghệ cho sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến tinh, chế biến sâu, chế biến phụ phẩm trong ngành hàng lúa gạo. Theo đó, hoạt động sản xuất lúa cần được tổ chức phát triển theo vùng, nghiên cứu ứng dụng cơ cấu giống và các gói kỹ thuật canh tác, đi kèm với tổ chức sản xuất- thể chế phù hợp với điều kiện tự nhiên-xã hội của từng vùng. Các diện tích đất không tối ưu cho sản xuất lúa cần được chuyển đổi sang các cây trồng khác để nâng cao hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả kinh tế của người sản xuất. Phát triển cơ sở hạ tầng cho hoạt động sau thu hoạch-chế biến sẽ đóng vai trò quan trọng trong tăng nguồn cung nhờ giảm thất thoát và bảo đảm chất lượng gạo.  

PV: Việt Nam đang là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa có những thương hiệu gạo mạnh, có giá trị xuất khẩu cao. Chúng ta cần làm gì để xây dựng một thương hiệu gạo cao cấp, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế?

TS Nguyễn Trung Kiên: Điều cần khẳng định là thương hiệu cao cấp luôn xây dựng trên một nền tảng chất lượng cao, được công nhận và được ghi nhớ trong nhận thức của người tiêu dùng. Đề án Tái cơ cấu lúa gạo tập trung vào hướng tăng chất lượng và tăng tỷ trọng gạo chất lượng cao là nền tảng thiết yếu cho xây dựng thương hiệu gạo. Các quốc gia xây dựng thương hiệu gạo trên thế giới hiện đều bắt đầu bằng tuyển chọn một số ít giống lúa gạo chất lượng cao, cơm ngon và hình thức đẹp, tiến hành sản xuất tại các khu vực đặc biệt phù hợp để đồng thời xây dựng chỉ dẫn địa lý, kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Hoạt động xây dựng thương hiệu gạo được triển khai liên ngành, gắn với hoạt động ẩm thực, văn hóa và du lịch quốc gia để tạo ra giá trị vô hình-vốn chiếm tỷ trọng lớn trong thương hiệu sản phẩm.  

PV: Một trong những vấn đề “muôn thuở” của nông nghiệp Việt Nam là “được mùa, mất giá”. Để tránh tình trạng này, cần làm gì, thưa ông?

TS Nguyễn Trung Kiên: Thứ nhất, cần xây dựng hệ thống giám sát cung các ngành hàng và hệ thống cảnh báo rủi ro thị trường làm nhiệm vụ thông báo thông tin đầy đủ, kịp thời hướng dẫn và tạo động lực cho người sản xuất-kinh doanh tổ chức lại hệ thống sản xuất và thị trường dựa trên nhu cầu khách hàng. Hai hệ thống này cần mang tính toàn diện, chuyên sâu, có tính tương tác cao, có khả năng tự duy trì hoạt động.

Thứ hai là xây dựng chuỗi giá trị ngành hàng theo định hướng tăng trưởng bao trùm và hợp tác chặt chẽ. Đây là yếu tố rất quan trọng trong giải quyết vấn đề “được mùa, mất giá”. Mặc dù các hoạt động sáp nhập ngành dọc đã bắt đầu, nền sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam vẫn có đặc trưng là manh mún và phân tán trong cả cấu trúc sản xuất và cấu trúc chuỗi giá trị. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, cách tiếp cận đa chiều và những lợi ích của kinh tế hợp tác cũng như tăng trưởng bao trùm trong tạo lập hệ thống có sức mạnh bền vững. Để hỗ trợ xây dựng chuỗi giá trị ngành hàng, Chính phủ cần xây dựng và triển khai chương trình hiện đại hóa ngành lúa gạo như đề cập ở trên.

PV: Lúa hiện vẫn là cây chủ lực ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và vị trí đó sẽ còn tồn tại trong tương lai. Nhiều năm qua, có rất nhiều chính sách cho loại cây này, nhưng các chính sách đó chưa đi vào cuộc sống. Đề án tái cấu trúc ngành hàng lúa gạo Việt Nam giai đoạn 2020 tầm nhìn 2030 có giải quyết được vấn đề này, thưa ông?

TS Nguyễn Trung Kiên: Để hiện thực hóa tầm nhìn phát triển ngành lúa gạo Việt Nam đến năm 2030, các định hướng trọng tâm được xác định bao gồm: Xác định lại vai trò của các tổ chức chính phủ theo hướng giảm chỉ đạo, tăng kiến tạo với tầm nhìn vượt trên chính sách nông nghiệp truyền thống và năng lực triển khai được cải thiện; phát triển bền vững hoạt động sản xuất lúa gạo, cả về lượng và chất thông qua điều phối sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực đất-nước, tăng cường các chính sách nông nghiệp xanh; tăng cường năng lực đối phó với biến đổi khí hậu của toàn bộ chuỗi giá trị lúa gạo; thúc đẩy sự phát triển ngành lúa gạo dựa trên nền tảng tri thức vững chắc hơn; tái định vị thương hiệu và tăng cường khả năng cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam trên thị trường nội địa và quốc tế; xây dựng chuỗi giá trị lúa gạo theo định hướng tăng trưởng bao trùm và hợp tác chặt chẽ.

leftcenterrightdel
 Đồng bằng sông Cửu Long cần những cánh đồng mẫu lớn để phát triển sản xuất lúa gạo. Ảnh: Trọng Văn

Đối với riêng ĐBSCL, các địa phương cần hoạch định và triển khai chính sách theo hướng hợp tác hơn, tiến tới đồng thuận về một kế hoạch phát triển vùng thống nhất, có tính kết nối cao, đạt tăng trưởng bao trùm và mang lại lợi ích kinh tế bền vững cho tất cả các tác nhân trong chuỗi giá trị lúa gạo. ĐBSCL cần hoàn thiện quy hoạch thủy lợi toàn vùng và áp dụng chính sách quản lý thủy lợi để điều tiết hợp lý việc sử dụng nguồn nước giữa các tỉnh, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng và hài hòa giữa các mục tiêu sử dụng nước, đặc biệt giữa sản xuất lúa và nuôi trồng thủy sản. Đồng thời, ĐBSCL cần phát triển hệ thống đường thủy, đường bộ để tăng kết nối tới các vùng chuyên canh và cảng Cần Thơ để có thể xuất khẩu gạo từ miền Tây, áp dụng công nghệ hiện đại về kỹ thuật và quản lý để giảm thời gian của tàu tại cảng, giảm chi phí bốc dỡ, hỗ trợ xây dựng hệ thống điện phục vụ sản xuất cho các vùng chuyên canh ở ĐBSCL, khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo trong sản xuất và chế biến lúa gạo.   

Trong hai thập kỷ sắp tới, ngành lúa gạo tại ĐBSCL cần phát triển bền vững hoạt động sản xuất, cả về lượng và chất thông qua điều phối sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực đất-nước, đồng thời tăng cường các chính sách nông nghiệp xanh. Hoạt động tích tụ ruộng đất cần tiếp tục thực hiện theo nhiều hướng khác nhau, nhằm nâng cấp hệ thống sản xuất và chất lượng lúa gạo, giảm chi phí giao dịch trong chuỗi giá trị, giúp các gia đình đạt được và duy trì mức sống trung lưu dựa trên hoạt động sản xuất nông nghiệp. Nông dân và các tổ chức nông dân cần được trao quyền lựa chọn linh động hơn trong sử dụng đất để cải thiện thu nhập, thích ứng tốt hơn với tình hình thời tiết cũng như các rủi ro thị trường và sản xuất khác. Điều tiết và sử dụng hiệu quả hơn nguồn nước thủy lợi, vốn là hoạt động đầu tư lớn nhất trong ngành nông nghiệp, sẽ là một khía cạnh bền vững quan trọng trong tương lai của ngành lúa gạo ĐBSCL. Trong khi đó, lạm dụng đầu vào và độc canh, thâm canh cây lúa đang gây ra nhiều rủi ro môi trường. Vì thế gần đây, Chính phủ cũng đang chuyển hướng quan tâm hơn tới các thách thức môi trường. Chính phủ cũng cần đầu tư thích đáng để nâng cao năng lực các tổ chức khoa học công nghệ, trong đó nâng cấp Viện lúa ĐBSCL để đạt trình độ quốc tế, tương xứng với nhiệm vụ nghiên cứu lúa phục vụ cho vùng ĐBSCL.

Tăng cường năng lực đối phó với biến đổi khí hậu của toàn bộ chuỗi giá trị lúa gạo sẽ là một trong những mối quan tâm lớn của toàn bộ tác nhân trong chuỗi giá trị lúa gạo, đặc biệt là sau đợt hạn hán, thiếu mưa làm trầm trọng tình trạng xâm nhập mặn tại ĐBSCL từ cuối năm 2015 đến đầu năm 2016, làm giảm năng suất và sản lượng lúa gạo tại khu vực này. Đối phó với vấn đề biến đổi khí hậu nói riêng, các áp lực môi trường và thị trường nói chung, sẽ yêu cầu các tổ chức công-tư trong ngành đưa một nền tảng tri thức vững chắc hơn vào hệ thống ra quyết định.

Tái định vị thương hiệu và tăng cường khả năng cạnh tranh của lúa gạo Việt Nam trên thị trường nội địa và quốc tế sẽ là một hoạt động liên tục để hướng tới mục tiêu trở thành thương hiệu hàng đầu thế giới về chất lượng, an toàn thực phẩm. Hiện nay, phần lớn lúa gạo xuất khẩu của Việt Nam từ ĐBSCL vẫn không tiếp cận được tới người tiêu dùng cuối cùng trên thị trường quốc tế.

PV: Trân trọng cảm ơn ông về cuộc phỏng vấn!

HUY ĐĂNG (thực hiện)