PV: Thưa ông, đất nước ta có nhiều phong tục đẹp, nhất là vào dịp Tết đến, xuân về, ông có thể chia sẻ thêm ý nghĩa của các phong tục ấy với bạn đọc báo QĐND?

PGS, TS Lê Quý Đức: Nước ta có nền văn hóa đặc sắc, lâu đời, gắn với quá trình hình thành dân tộc. Trải qua hàng nghìn năm, nhiều thói quen đẹp đã dần thành phong tục truyền thống, làm cho đời sống tinh thần của người dân thêm phong phú hơn. Đặc biệt vào dịp Tết, bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp cúng ông Công, ông Táo, nhiều phong tục truyền thống mang ý nghĩa nhân văn được người dân gìn giữ, trân trọng, như đi chúc Tết chẳng hạn.

Chúc Tết là một phong tục rất nhân văn có từ xã hội xưa. Con người ai sinh ra, lớn lên đều có công sinh dưỡng của cha mẹ, công dạy dỗ của người thầy. Vậy nên dịp Tết người ta có câu “Mồng Một Tết cha, Mồng Hai Tết mẹ, Mồng Ba Tết thầy”, thể hiện lòng biết ơn với những người nuôi dưỡng, dạy dỗ mình. Đó là phong tục nhân văn, nhân bản, nhằm răn dạy con người sống phải có lòng biết ơn.

Về phương diện xã hội thì trong xã hội truyền thống người ta sống cần dựa vào những cộng đồng huyết thống bên nội, bên ngoại. Người xưa có câu: “Thừa của bỏ vào họ, khó khăn dựa vào họ”. Tức là nếu anh dư dả thì đóng góp cho họ, khi anh có khó khăn cần giúp đỡ thì anh nhờ họ. Cộng đồng huyết thống ấy như một mạng lưới xã hội, một vốn xã hội mà con người cần đầu tư vào, dựa vào cả về vật chất lẫn tinh thần, tình cảm nên tất nhiên có ý nghĩa rất quan trọng.

PV: Trong xã hội hiện nay, phong tục ấy có thay đổi gì không, thưa ông?

PGS, TS Lê Quý Đức: Truyền thống chúc Tết với giá trị nhân văn, giá trị xã hội ấy đến hôm nay vẫn được bảo tồn. Tất nhiên, ở xã hội hiện đại đã có những thay đổi nhất định, như việc bây giờ ngoài chúc Tết gia đình, họ hàng, thầy cô, người ta còn chúc Tết bạn bè, đồng nghiệp, cấp trên, người có ơn với mình… Ngày nay, con người cá nhân được khẳng định hơn, nhiều quan hệ mới được xác lập trong xã hội. Thực ra đó cũng là một môi trường sống, cũng là một nguồn vốn xã hội của mỗi người, thậm chí còn tiếp xúc nhiều hơn là mối quan hệ họ hàng. Vậy nên người ta cũng đầu tư vào mối quan hệ đó và người ta đi chúc Tết, tặng quà để thể hiện tình cảm và bản chất của việc này cũng mang ý nghĩa rất cao đẹp, nhân văn. 

Tuy nhiên, thực tế trong xã hội hiện nay cũng không hiếm những trường hợp lợi dụng dịp Tết để hối lộ… Điều đó được nhìn như là một hiện tượng tiêu cực. Sự chi phối của lợi ích cá nhân ấy đã khiến ý nghĩa nhân văn của việc chúc Tết giảm đi. Thực ra, rất khó để lượng hóa giá trị của quà tặng được đâu là quà tình nghĩa, đâu là quà hối lộ… Người Việt ta vốn trọng tình nghĩa, ví như một người có ơn với ta, ta biết trả bao nhiêu cho vừa, trả bao giờ thì đủ? Tình cảm con người cũng không đong đếm được. Vậy nên, ứng xử như nào cho đẹp lại tùy vào từng cá nhân, từng mối quan hệ, cách cư xử của cả người tặng quà và người nhận quà.

leftcenterrightdel
Phó giáo sư, Tiến sĩ Lê Quý Đức

PV: Thưa ông, Tết không chỉ là dịp để gia đình sum họp, thăm hỏi người thân, bạn bè mà còn là dịp để nghỉ ngơi, hưởng thụ sau một năm làm việc bận rộn. Có phải vì vậy mà người ta có câu “Đói giỗ cha, no ba ngày Tết”?

PGS, TS Lê Quý Đức: Dịp Tết đến Xuân về được coi là dịp để vui chơi, thăm thú lẫn nhau, đi chơi hội hè. Ngày xưa khi đời sống xã hội còn khó khăn thì với đa số gia đình phải đến Tết mới được ăn uống nhiều món ngon mà hằng ngày hiếm khi được ăn. Người ta nuôi con lợn, con gà cả năm đợi đến Tết mới được thịt; hoa quả trong vườn cũng để dành đến Tết; Tết mới được mua quần áo, dép mới; rồi chuẩn bị bánh kẹo, giò chả, măng, miến trước cả tháng… để ăn Tết. Xưa người ta hay gọi là ăn Tết. Bây giờ đời sống xã hội thay đổi, không còn lo thiếu ăn, thiếu mặc nữa thì những ngày nghỉ Tết người ta có xu hướng chơi nhiều hơn. Bởi vậy mà bây giờ người ta hay gọi là chơi Tết. Dù xưa hay nay thì Tết cũng là dịp để sum họp, nghỉ ngơi giải tỏa tinh thần, bồi bổ sức khỏe sau một năm làm việc.

PV: Có phải vì thế mà người ta vẫn hay nói “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” không, thưa ông?

PGS, TS Lê Quý Đức: Quan niệm “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp của người dân xưa, dựa theo đặc điểm thời vụ của sản xuất nông nghiệp và dần dần trở thành truyền thống, mang tính tâm linh, tinh thần, tính thiêng. Xưa, người dân chủ yếu làm nông nghiệp, một năm 2 vụ và phụ thuộc vào tiết trời. Vụ chiêm bắt đầu dịp đầu năm nhưng thời tiết dịp này thường lạnh, nguồn nước không chủ động nên việc gieo trồng không thuận lợi, phải trông trời, trông đất. Vì vậy, đây được coi là thời điểm nông nhàn. Hơn nữa, trong sự hòa quyện giữa môi trường, không gian, thời gian của ngày Tết, ngày xuân, cùng với nhu cầu vui chơi giải trí của con người, dịp này cũng có nhiều hoạt động lễ hội nên người ta hay nói “Tháng Giêng là tháng ăn chơi”.

PV: Trong xã hội ngày nay, quan niệm này có còn phù hợp không, thưa ông?

PGS, TS Lê Quý Đức: Ta đừng nghĩ quan niệm “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” tức là cả tháng chỉ ăn và chơi mà không làm việc. Trong nền kinh tế thị trường, Tết vẫn là dịp để con người tái tạo lại tinh thần, sức lao động sản xuất và thực tế điều này là rất cần thiết. Ở nước ta, Nhà nước hay các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp có chủ là người nước ngoài, không ăn Tết ta, vẫn cho người lao động nghỉ nhiều ngày dịp này, có đơn vị còn cho nghỉ cả nửa tháng, tùy sự sắp xếp công việc. Chúng ta đã có thời gian nghỉ Tết dài cả tuần thì chỉ nên ăn chơi trong thời gian đó, không nên lạm dụng câu nói trên để ăn chơi quá đà. Ăn chơi mà bỏ bê công việc, uống rượu say xỉn, chơi cờ bạc như một thứ kinh tế ngầm của kinh tế thị trường, không theo các quy tắc xã hội, luật pháp thì lại là không nên.

Ăn chơi theo nghĩa nào đó vẫn là một phương thức sống của xã hội hiện đại, giúp kích cầu cho nền sản xuất. Nhưng Việt Nam vẫn là nước nghèo, thu nhập thấp, không nên dựa cớ tháng ăn chơi để kéo dài, tốn kém nhiều thời gian. Nhất là các cơ quan đi chơi, đi chùa, lễ hội làm tiêu tốn công sức, có khi còn tiêu tốn tiền của cơ quan, tập thể… Điều đó kéo theo nhiều dịch vụ khác như đốt nhiều vàng mã, đổi tiền lẻ… không phục vụ sản xuất là bao. Rồi tinh thần người lao động nghĩ nhiều đến đi chơi mà kém tập trung công việc…

Có năm tôi về quê ăn Tết, Mồng Hai đã có nhà hóa vàng hết Tết vì Mồng Ba họ đã ra đồng đi cấy. Quan niệm “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” xuất phát từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhưng chính người nông dân bây giờ cũng đã thay đổi để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh. Tôi nhớ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng từng quán triệt tinh thần chủ động ngay từ ngày đầu, tháng đầu của năm, phải thực sự bắt tay vào việc, không để tình trạng “tháng Giêng là tháng ăn chơi” mà nhiều người hay nói. Tôi rất đồng tình và ủng hộ quan điểm này của Thủ tướng.

PV: Đi chùa, đi lễ hội vốn là một phong tục của người Việt Nam vào dịp đầu năm, nhưng đôi khi vẫn xuất hiện những hình ảnh chưa đẹp, làm giảm đi giá trị, ý nghĩa của phong tục này. Ông có nhận xét gì về vấn đề này?

PGS, TS Lê Quý Đức: Đầu năm là dịp có nhiều lễ hội, đi lễ hội cũng là nhu cầu tâm linh, tinh thần của mỗi người, dù người giàu hay nghèo, từ người nông dân đến lãnh đạo. Đó là nét văn hóa, phong tục của người dân dịp đầu năm và không nên để xuất hiện những hình ảnh phản cảm, chen lấn, xô đẩy, cướp lộc, xin ấn… như chúng ta từng thấy ở một số nơi. Khi thấy những hình ảnh phản cảm ấy, tôi chợt nghĩ đến lễ hội đền Đồng Cổ ở phường Bưởi (quận Tây Hồ, TP Hà Nội). Lễ hội được vua Lý Thái Tông lập lệ bắt đầu từ năm 1028. Hội thề được tổ chức hàng năm vào ngày 25 tháng Ba âm lịch tại đền Đồng Cổ ở làng Đông Xã-Thăng Long (nay thuộc phường Bưởi). Tại đây, các quan văn võ quỳ trước đàn, uống máu và thề: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, thần minh chu diệt”. Sau đó, lễ hội đổi sang ngày mồng 4 tháng Tư âm lịch, người dân đến xem rất đông và quan nào vắng mặt bị phạt tiền. Lễ hội thề này được giữ đến thời Trần và sang thời Lê có sự thay đổi. Trải qua hơn một nghìn năm, hội thề đền Đồng Cổ vẫn mang một giá trị văn hóa đặc sắc, thể hiện đức tính trung thành và lòng yêu nước của người Việt Nam, đặc biệt là người làm quan.

Hay ở thôn Hòa Liễu, xã Thuận Thiên (Kiến Thụy, Hải Phòng) cũng có lễ hội Minh thệ từ thế kỷ 16, diễn ra vào ngày 14 tháng Giêng với ý nghĩa lấy chí công làm trọng, người nông dân không phân biệt giàu, nghèo đẳng cấp xã hội, không vì cơ hàn mà xâm phạm của công. Tại đây, người dân làng từ các bô lão đến trên 18 tuổi sẽ thề ai dùng của công dùng vào việc công xin thần linh ủng hộ, ai lấy của công dùng vào việc tư, cầu thần linh đả tử… làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, xin thần linh tru diệt…

Tôi tự hỏi, sao nhiều người đi lễ hội để chen nhau đi xin lộc, xin ấn, cầu tài cầu lộc mà chẳng ai đi hai lễ hội trên để thề! Nói vậy để thấy, đi lễ hội vốn mang ý nghĩa tốt đẹp và nhu cầu, niềm tin tâm linh, tín ngưỡng lành mạnh luôn có ý nghĩa giáo dục, định hướng hành vi con người theo hướng tích cực, nhân văn. Vì vậy, chúng ta luôn cần thể hiện những hành động văn minh.

PV: Thưa ông, trong thời khắc đầu năm, dường như con người thường mong muốn làm được những điều ý nghĩa, chia sẻ những điều tốt đẹp?

PGS, TS Lê Quý Đức: Đúng là như vậy, cho nên đầu năm có nhiều phong tục đẹp được người dân thực hiện. Như Bác Hồ phát động mùa xuân là Tết trồng cây, mang ý nghĩa rất nhân văn. Đầu tiên là làm cho môi trường xanh đẹp hơn, nhất là hiện nay đô thị hóa làm cho cây xanh ít đi. Về nhân sinh, trồng cây cũng là giáo dục con người nhiều ý nghĩa. “Uốn cây từ thuở còn non, dạy con từ lúc con còn ngây thơ”. Trồng cây và chăm sóc cho cây giống như cách giáo dục con người biết yêu thương nhau, giáo dục cho chúng ta tinh thần cộng đồng, đoàn kết, cùng nhau làm một việc ý nghĩa. Thay vì đi chơi bài bạc, nhậu say xỉn… thì ta trồng cây sẽ ý nghĩa hơn rất nhiều.

Ngoài những phong tục truyền thống thì những năm gần đây, trong xã hội cũng xuất hiện nhiều phong tục mới rất nhân văn vào dịp đầu năm, như đi làm từ thiện với mong muốn chia sẻ niềm vui với người khác. Hay nhiều người lại có thói quen tặng sách, phóng sinh… trong dịp này cũng rất đẹp!

PV: Trân trọng cảm ơn ông!    

CHI PHONG (thực hiện)