Phóng viên Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần đã có cuộc phỏng vấn PGS, TS Nguyễn Bình Định, Viện trưởng Viện Âm nhạc-đơn vị chủ trì xây dựng hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam”-về giá trị và quá trình xây dựng hồ sơ sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng này.

Phóng viên (PV): Ông có thể phác họa giá trị của Then?

PGS, TS Nguyễn Bình Định: Then vừa là một loại hình nghệ thuật dân gian, vừa là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lâu đời của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam. Thông qua những quan niệm về Mường Trời (nơi cư ngụ của các thần linh), Mường Đất (nơi cư ngụ của con người), Mường Nước (nơi cư ngụ của Long Vương)... người Tày, Nùng, Thái giải thích về mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên cũng như bày tỏ ước vọng về chỗ dựa tinh thần, tạo dựng niềm tin để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống. Trong đời sống của người Tày, Nùng, Thái cổ, hát Then xuất hiện trong những sự kiện trọng đại như lễ cầu an, cầu mùa… Người hát Then trong những dịp lễ, Tết là người đại diện cho cộng đồng giao tiếp với thần linh, cầu cho mùa màng tươi tốt, đời sống ấm no, hạnh phúc. Nhạc cụ chính sử dụng trong hát Then là đàn tính. Bên cạnh đó, hát Then còn được nhìn nhận như một loại hình diễn xướng dân gian, tích hợp nhiều bộ môn nghệ thuật như văn học, âm nhạc, múa, hội họa, trình diễn… Trong các bài khấn Then chứa đựng nhiều bài học về giáo dục con cái, yêu kính tổ tiên, tôn trọng bố mẹ…

leftcenterrightdel

PGS, TS Nguyễn Bình Định.

PV: Trong quá trình xây dựng hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam”, Viện Âm nhạc đã gặp những thuận lợi, khó khăn gì, thưa ông?

PGS, TS Nguyễn Bình Định: Về thuận lợi, các thầy Then ở địa phương vẫn còn nhiều, các nghi lễ tín ngưỡng vẫn còn được thực hiện và một phần quan trọng không kém là hiện vật, sách Then bằng tiếng Tày-Hán vẫn còn được gìn giữ nhiều trong những gia đình có truyền thống làm thầy Then.

Di sản Then phổ cập ở rất nhiều tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Đặc biệt, đối với các dân tộc Tày, Nùng, Thái, hiện Then vẫn đang được yêu thích và sử dụng trong đời sống hằng ngày, cả đời sống văn nghệ lẫn đời sống tâm linh. Mỗi địa phương sở hữu Then lại có phong cách riêng, độc đáo. Sự phong phú, đa dạng ấy thể hiện sức sống của di sản. Đó là yếu tố để ta dựa vào đáp ứng yêu cầu công nhận di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO: Vẫn còn sống, sử dụng, có tiếp nối lâu dài và tư liệu phong phú.

Về khó khăn, Then tồn tại và phát triển ở địa bàn các tỉnh vùng núi phía Bắc nên việc đi lại của các chuyên gia không dễ dàng. Hơn nữa, Then được hát bằng 3 thứ tiếng của 3 dân tộc, khi thu về dịch sang tiếng Việt rồi lại dịch sang tiếng Anh mất rất nhiều thời gian. Một giờ quay phim về phải dịch cả ngày. Mặt khác, nhiều từ tiếng Việt không dịch được sang tiếng Anh nên phải giải thích rất dài. Chúng tôi từng làm một lễ cấp sắc ở Bắc Kạn, phải dịch lời mất hai tháng mới xong. Hơn nữa, người biết tiếng Tày cũng chưa chắc dịch được, vì ở đây là tiếng cổ, cộng với phải hiểu biết, có kiến thức về tín ngưỡng, tâm linh, dân tộc thì mới dịch được. Vì thế khi làm hồ sơ, chúng tôi đã yêu cầu mỗi tỉnh phải cung cấp một chuyên gia hiểu biết về Then dịch lời rồi mới chọn lọc đưa vào hồ sơ.

leftcenterrightdel
Hát Then được đưa lên sân khấu nghệ thuật. Ảnh: Quang Huy 

Một khó khăn nữa là hiện UNESCO đã thay đổi cách làm hồ sơ. Trước kia, các nhà khoa học đi lấy tư liệu về và viết hồ sơ. Giờ nhà khoa học chỉ là người chắp bút, cộng đồng đứng lên xây dựng hồ sơ. Về mặt kỹ thuật, hình ảnh, âm thanh phải chân thực, tại chỗ, minh chứng cụ thể ngày giờ và cập nhật… trong khi địa phương thường không hiểu điều đó. Trong hồ sơ, mỗi mục lại quy định bao nhiêu từ. Anh có thể tưởng tượng, họ cho 200 từ để thể hiện: Tên di sản, đặc trưng di sản, sức sống của di sản, giá trị di sản. Quá khó! Quá 1 từ là phạm quy, bị loại luôn. Phim cho 10 phút phải thể hiện toàn bộ lịch sử, quá trình phát triển di sản của cả 3 dân tộc, với 3 thứ tiếng.

Một yếu tố nữa, hiện Việt Nam là quốc gia được đánh giá là có nhiều di sản được công nhận nên UNESCO xét rất chặt, để dành cho những quốc gia chưa có hoặc mới được ít.

PV: Ông có thể đánh giá mức độ hoàn chỉnh của hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam”?

PGS, TS Nguyễn Bình Định: Hồ sơ này làm rất tốt. Bằng chứng là trước khi gửi đi UNESCO, hồ sơ đã được Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia xem xét. Hội đồng đánh giá đây là bộ hồ sơ đầy đủ và sát yêu cầu nhất từ trước đến nay.

PV: Để thực hiện hồ sơ “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam”,  Viện Âm nhạc đã có những khảo sát, nghiên cứu về di sản này. Ông cho biết hiện trạng của việc bảo tồn và phát huy di sản Then trong cộng đồng?

PGS, TS Nguyễn Bình Định: Mặc dù Then khá phổ biến ở vùng núi phía Bắc và vẫn còn tồn tại nhiều trong đời sống người dân các dân tộc Tày, Nùng, Thái, nhưng việc bảo tồn không hề dễ dàng, bởi Then mang tính tâm linh, nghi lễ nhiều hơn là trình diễn. Như Đờn ca tài tử cũng có sức sống hiện tại tương tự như Then, ai cũng có thể hát được, vào karaoke cũng hát được, nhưng Then thì không thể vì Then gắn với việc làm lễ của thầy Then.

Khoảng những năm 1960 xuất hiện hát Then đàn tính. Các nghệ sĩ đã sử dụng một số làn điệu Then rồi đưa lời mới vào diễn văn nghệ quần chúng. Những tiết mục hát Then mới được nhiều người thích, đi hội diễn luôn được giải cao. Điều đó thể hiện sức sống của Then rất mạnh mẽ, lan tỏa ra cộng đồng, đời sống nghệ thuật. Tuy nhiên, bảo tồn Then như thế nào cũng là vấn đề, vì không thể đưa các bài lễ Then vào trong trường học dạy được. Một số làn điệu đưa ra cho quần chúng hát với đàn tính thì được, nhưng bảo tồn lễ Then truyền thống thì như thế nào cũng phải suy nghĩ tìm hướng. Phải chắt lọc cái gì đưa vào bảo tồn, cái gì đưa vào giảng dạy, đưa ra sân khấu và phát triển. Phải khéo trong chuyện sàng lọc.

PV: Một trong những yêu cầu của UNESCO là chương trình hành động với di sản sau khi được công nhận. Với hát Then, Viện Âm nhạc sẽ làm gì?

PGS, TS Nguyễn Bình Định: Chúng tôi đã nêu lộ trình hành động bằng những việc cụ thể, ví dụ 5 năm tới làm những gì, nghiên cứu như thế nào, quan tâm tới nghệ nhân như thế nào, rồi nghiên cứu phổ cập như thế nào…

PV: Theo ông, chính sách ưu đãi đối với nghệ nhân như hiện tại đã đáp ứng được yêu cầu gìn giữ và phát huy di sản Then?

PGS, TS Nguyễn Bình Định: Thực ra về mặt quan điểm, di sản là của toàn dân. Di sản Then trước hết là của dân tộc Tày, Nùng, Thái. Việc bảo tồn, phát huy di sản trước hết là nhiệm vụ của những người thực hành di sản, sau đó là của toàn dân chứ không phải của riêng ai. Vì vậy, về phía Nhà nước phải có cơ chế đầu tư. Người dân thì không thể chờ cơ chế rồi mới làm. Di sản thuộc về anh cơ mà!

Hiện tại, một số địa phương đã có chủ trương: Tạo điều kiện cho nghệ nhân đi biểu diễn, mở các câu lạc bộ hát Then đàn tính… Tuy nhiên, cần có thêm một số chính sách để gìn giữ, bảo tồn Then. Ví như đối với nghệ nhân già, yếu, nghèo khó cần có cơ chế để bảo đảm cuộc sống của họ. Tính cơ chế thị trường ở di sản Then là không có, nghệ nhân không thể sống bằng nghề Then.

PV: Trân trọng cảm ơn ông về cuộc phỏng vấn!

Box: Nghi lễ Then là một nghi lễ văn hóa truyền thống mang tính chất tín ngưỡng của người Tày, Nùng, Thái ở miền núi phía Bắc. Loại hình văn hóa này đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp bằng công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia vào năm 2013. Diễn xướng nghi lễ Then có 3 hình thức chính là: Cấp sắc Then; cầu phúc, cầu an, giải hạn, hoàn trả lễ và cầu hoa, cầu có con nối dõi tông đường. Các nghi lễ diễn ra trong 2 ngày đêm với nhiều nội dung như: Lễ cúng tổ tiên, lễ dọn đường cho các quan Then, lễ cúng mời, lễ cúng dâng rượu… Dù là loại hình trình diễn nghi lễ nhưng Then hấp dẫn bởi được thể hiện bằng giai điệu dễ hát với lời thơ trau chuốt dễ thuộc, chỉ cần một cây đàn tính là có thể hát Then cả năm.

Hát Then có nhiều bài bản, làn điệu. Lời hát theo hình thức diễn xướng tổng hợp ca nhạc đàn tính, múa, diễn với nhiều tình huống khác nhau. Ở mỗi vùng, làn điệu Then lại có những nét độc đáo riêng. Then Cao Bằng dìu dặt tha thiết. Then Lạng Sơn tươi vui, rộn ràng. Then Tuyên Quang dồn dập như thúc quân ra trận. Then Hà Giang nhấn nhá từng tiếng một. Then Bắc Kạn như chuyện kể thầm thì.

PHƯƠNG TRANG (thực hiện)