Tín ngưỡng khác mê tín

Phóng viên (PV): Thưa ông, dư luận đang có nhiều ý kiến xung quanh việc cấm đốt vàng mã, quan điểm của ông về việc này như thế nào?

TS Trần Hữu Sơn: Vừa qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có đề nghị các phật tử và người dân loại bỏ mê tín dị đoan và tục đốt vàng mã ở các cơ sở thờ tự Phật giáo. Tôi cho rằng đó là hành động tốt, là một cách ứng xử phù hợp trong giai đoạn hiện nay. Thứ nhất, truyền thống Phật giáo không có tục đốt vàng mã. Thứ hai là Giáo hội Phật giáo cũng nhận thấy được những tác hại của việc đốt nhiều vàng mã sẽ ô nhiễm môi trường, nguy cơ cháy, nổ rất cao. Thứ ba, trong các thiết chế tôn giáo thì Phật giáo có vai trò quan trọng, nhất là trong các lễ dâng sao giải hạn có sử dụng nhiều vàng mã. Nếu Phật giáo làm được việc này thì rất tốt. Nhưng băn khoăn của tôi là liệu có làm được không và cách làm như thế nào? Giáo hội đưa ra quan điểm đó nhưng quan trọng là chính bản thân giáo hội, ở các chùa sẽ làm như thế nào...

leftcenterrightdel
Tiến sĩ Trần Hữu Sơn. Ảnh: THU HÒA

PV: Từ đề nghị cấm đốt vàng mã cho thấy yêu cầu cần phân biệt rõ giữa phong tục văn hóa với những hành vi mê tín dị đoan. Tuy nhiên, ở nhiều lễ hội nước ta, ranh giới này rất mong manh. Theo ông, làm thế nào để tách bạch được điều này?

TS Trần Hữu Sơn: Trước hết, chúng ta phải xem lịch sử tục đốt vàng mã có từ khi nào. Theo một số tài liệu cổ thì việc đốt vàng mã có từ thời Hán ở Trung Quốc, sau khi người ta phát minh ra giấy. Trước đó, có phong tục người sống bị chôn theo người chết thì việc đốt mã thay cho người là một cuộc cách mạng, là việc làm tốt. Sau đó, đốt vàng mã thành tục lan rộng trong xã hội, nghề làm vàng mã phát triển…

Tục này vào Việt Nam khi nào cũng chưa có tư liệu khoa học chính xác nhưng tôi đọc tài liệu thì thấy từ thời An Nam đô hộ phủ đã có vàng mã đốt ở Thành Tống Bình (Hà Nội). Đốt vàng mã ở ta lúc đầu đơn giản và có thể nói là đơn giản cho đến trước đổi mới. Chỉ đốt vàng mã khi cúng tổ tiên, ngày rằm, mồng một, viết sớ làm lễ cầu, tạ ở đình, chùa hay cúng ngày rằm tháng Bảy âm lịch xá tội vong nhân, và cũng chỉ dùng số lượng rất ít, đó là tín ngưỡng.

Từ khi đổi mới, việc đốt vàng mã bùng lên, người ta lại có quan niệm đi vay, về trả, xuất phát từ đền Bà Chúa Kho. Đền Bà Chúa Kho ngày xưa không có tục ấy, nhưng sau này người ta nghĩ ra việc bà cho vay... Một đồn mười, mười đồn trăm, rồi vay một, trả mười… Sau đó, nhất là ở các đền theo tín ngưỡng thờ mẫu cũng làm như vậy. Vì người dân quan niệm trần sao âm vậy, có vay, có trả và mang tư duy ấy của người sống, áp đặt cho thế giới người âm. Quan niệm này ngày càng phát triển theo hướng mê tín. Người ta còn nghĩ ra trong lịch sử nhân vật được thờ sống như thế nào thì cúng cái đó, nào là voi, ngựa… Người dân thường chết thì được cúng nhà, xe... nhu cầu xã hội như thế nào thì người ta cúng theo.

Trong quan niệm tổ tiên ta xưa cái gì cũng vừa phải, vì người Việt không giàu có và người Việt không cuồng tín. Bây giờ người ta cuồng tín đến mức nhìn thấy con rắn cũng cúng, con cá lạ cũng cúng… Chúng ta phải bớt mê tín đi!

PV: Việc đó có vẻ không hề dễ dàng, thưa ông!

TS Trần Hữu Sơn: Có nhiều nguyên nhân của hiện tượng mê tín, xuất phát từ nhận thức của mỗi người. Tâm lý bất an, rồi tâm lý đám đông, một người làm, nhiều người cũng theo. Ví dụ như việc đổ xô đi mua vàng ngày vía thần tài vừa rồi.

Để giải quyết vấn đề này, theo tôi, Nhà nước trước khi ra quyết sách gì cần nhìn nhận vấn đề một cách tổng thể, tính toán từ tác động kinh tế, văn hóa, sự đồng thuận của xã hội để đưa giải pháp và xem có thực thi được hay không!

Riêng việc đốt vàng mã, tôi thấy nhất quyết cần phải giảm đi. Thứ nhất, chúng ta cần xem có các văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc đốt vàng mã chưa? Thứ hai, thực hiện trên phạm vi rộng ngay thì khó nhưng trước tiên phải yêu cầu không đốt vàng mã ở các di tích lịch sử-văn hóa. Việc này hoàn toàn có thể làm được vì các di tích đều có các tổ quản lý, ban quản lý trực thuộc UBND các cấp xã, phường; quận, huyện; cấp tỉnh, thành phố; đến các đơn vị quản lý chuyên trách di tích thuộc bộ, ngành quản lý. Chúng ta đã có nghị định quy định xử phạt hành vi đốt vàng mã không đúng nơi quy định tại lễ hội, di tích lịch sử-văn hóa. Cơ sở văn bản đã có nhưng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) không quyết liệt làm nghiêm nên đã để tình trạng đốt vàng mã tại những nơi này tiếp diễn. Thứ ba là cần tuyên truyền, vận động theo ngành dọc từ Bộ VHTTDL đến các sở, phòng, ban quản lý di tích; tuyên truyền ra cộng đồng xã hội tạo làn sóng dư luận lên án hiện tượng mê tín dị đoan, đặc biệt quan tâm đến vai trò của mạng xã hội.

Kết hợp chặt chẽ ba giải pháp trên, tôi nghĩ chắc chắn sẽ hiệu quả. Từ bài học cấm đốt pháo khó như vậy chúng ta đã làm được, hay những năm trước nhiều lễ hội bị phản ánh phản cảm, khi được sự vào cuộc quyết liệt của cơ quan văn hóa, chính quyền thì đã có chuyển biến rất tích cực. Tôi nghĩ, Bộ VHTTDL cũng phải tổ chức hội nghị chuyên đề để đưa ra được những giải pháp thiết thực.

Cần đổi mới công tác quản lý lễ hội

PV: Người dân là chủ thể của lễ hội, nhưng với sự can thiệp khá sâu của các cấp chính quyền, có cảm giác như người dân không còn là chủ lễ hội nữa. Ví dụ như có những lễ hội người dân phải mua vé vào xem… Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

TS Trần Hữu Sơn: Về vấn đề này, đang có hai luồng ý kiến mà theo tôi đều không đúng. Thứ nhất là quan điểm của một số nhà khoa học cho rằng lễ hội là của dân nên trả lại lễ hội cho người dân. Thứ hai là quan điểm lễ hội phải có sự quản lý của Nhà nước.

leftcenterrightdel
Lễ hội làng Hoành Nha, xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Ảnh: HÀN MAI

Nhật Bản có hơn 200.000 lễ hội. Ở ta xưa kia, các làng đều có lễ hội, nếu chỉ làm một phép so sánh đơn giản số lễ hội trong cả nước với số xã thì ta thấy Việt Nam có hơn 8.000 lễ hội chưa phải là nhiều và việc khôi phục các lễ hội truyền thống cũng là việc đúng, nên làm. Tuy nhiên, nhiều lễ hội hiện nay đã được tái sáng tạo, biến thiên so với lễ hội gốc. Chẳng hạn như Hội phết Hiền Quan, xưa kia gọi là đánh phết và cũng ít người tham gia. Bây giờ lễ hội có hàng nghìn người tham gia thì thành cướp phết, nhưng theo tôi biết thì cũng không đến mức tranh cướp kinh khủng như một số báo phản ánh qua hình ảnh. Đông người như thế thì cũng “tả tơi xem hội” nên Nhà nước cần can thiệp để quản lý, có thể lệ, quy chế cụ thể. Nhà nước cần quản lý để không có việc "chặt chém" khách, để kiểm tra an toàn thực phẩm, bảo đảm an ninh trật tự… trong lễ hội. Đó mới là việc của chính quyền, và chính quyền chỉ làm những công việc mà người dân không làm được. Trả lại lễ hội cho dân phải hiểu là trả lại ý thức tự chủ cho người dân. Chứ không nên chen vào làm những việc như tế, rước... việc tổ chức lễ hội là của người dân, cộng đồng.

Còn việc lễ hội thu tiền vé người dân là sai. Ví như ở Lễ hội Chọi trâu Đồ Sơn, điều đáng quan tâm là ban tổ chức không chỉ bán vé mà còn tận thu ở cả đối tượng tham gia lễ hội. Đó là tiền đóng góp của các chủ trâu, tiền thuế, tiền đóng lệ phí đầu trâu vào thi, tiền phí chuồng nhốt trâu khi dự thi… Tất nhiên lễ hội trong cơ chế thị trường không thể như xưa, kinh phí tổ chức lễ hội không thể do các giáp đóng góp hoặc tiền công ích mà phải tạo nguồn thu từ lễ hội. Nhưng nếu nhìn rộng ra thì người ta không cần thu vé mà nên sử dụng tốt các dịch vụ trong lễ hội, công đức. Việc thu tiền không đúng thậm chí có thể dẫn đến mâu thuẫn giữa ban tổ chức và ban quản lý.

PV: Lễ hội giữ vai trò định hướng giá trị tinh thần rất lớn. Nhưng, có nhiều lễ hội rất có giá trị, ví dụ như Lễ hội Minh thề (Hải Phòng) lại không phát triển được, không nhiều người quan tâm, đến dự. Theo ông, đâu là nguyên nhân và giải pháp để phát triển những lễ hội như vậy?

TS Trần Hữu Sơn: Người dân đi lễ hội thường vì tính thiêng, như Lễ hội Chùa Hương, Yên Tử, gần đây là đền Bà Chúa Kho, người ta có thể đi nhiều năm liền, sau đó mới đến việc đi thăm thú, vãng cảnh và sau nữa mới là tìm hiểu ý nghĩa của lễ hội, di tích. Người ta đi chùa, đi lễ, đến nơi là thắp hương, khấn nhưng hỏi ý nghĩa của di tích đó thì có lẽ không biết. Những lễ hội như Minh thề rất có ý nghĩa giáo dục và cần phát huy mạnh. Tôi nghĩ cán bộ, lãnh đạo địa phương cũng nên đến tham dự để thề. Chỉ cần một cá nhân làm thì có thể tạo hiệu ứng rất tốt. Tôi nghĩ, có lẽ người dân cũng mong các lãnh đạo đến dự thề.

PV: Thưa ông, vậy chúng ta cần làm gì để phát huy hết giá trị, ý nghĩa tốt đẹp của các lễ hội?

TS Trần Hữu Sơn: Trước hết, về công tác quản lý, phải đổi mới quản lý lễ hội, nên phân biệt rõ cái gì là Nhà nước cần làm, cái gì là việc của nhân dân. Thứ nhất, chúng ta nên xây dựng bộ quy tắc ứng xử cho người đi hội, dù khó nhưng ở đâu cũng nên có để chi phối khách dự hội với ban tổ chức, ban quản lý lễ hội; giữa khách với địa phương; giữa cộng đồng sở tại với chính quyền sở tại, phân biệt cái gì dân làm, cái gì chính quyền làm.

Thứ hai, phải đổi mới nghiên cứu về lễ hội. Trước đây, chúng ta mạnh về nghiên cứu giá trị lễ hội nhưng chưa có nhiều nghiên cứu về những biến động mỗi năm một khác ở lễ hội. Ta phải phân tích được những hiện tượng phản cảm mà nghiên cứu dưới con mắt của người trong lễ hội chứ không chỉ là người nhìn hình ảnh để phán xét. Phải lý giải được những hiện tượng đang xảy ra để đề xuất giải pháp một cách khoa học, trên quan điểm của các ngành nhân học, xã hội học, văn hóa học. Trong nghiên cứu cần có dự báo xu hướng lễ hội để có giải pháp kịp thời. Thứ ba là tuyên truyền kết hợp nhiều kênh như tôi đã nói ở trên.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

DƯƠNG THU - TUẤN VĂN (thực hiện)