Say sưa trả "món nợ đời"

Phóng viên (PV): Ở tuổi 85, động lực nào đã giúp ông có quá trình nghiên cứu miệt mài với khối lượng công việc khổng lồ như thế?

Ông Dương Xuân Đống: Tôi là cựu chiến binh có 36 năm quân ngũ, những năm tháng làm giảng viên lịch sử quân sự của Học viện Quân sự Cấp cao, nay là Học viện Quốc phòng, tôi đã tự đặt ra cho mình nhiệm vụ nghiên cứu văn hóa quân sự Việt Nam nhưng lúc đó chưa có thời gian. Khi nghỉ hưu, tôi bắt đầu nghiên cứu. Anh biết đấy, ở tuổi tôi giờ là “lão giả an chi”, già quá rồi, nhưng tôi coi đây là món nợ đời của mình. Cho nên tôi tập trung làm việc. Văn hóa vốn là lịch sử, việc dạy lịch sử quân sự Việt Nam giúp tôi tích lũy vốn liếng, bao gồm cả sức khỏe, lòng đam mê cho việc nghiên cứu. Đến nay, sau 27 năm nghỉ hưu, 23 năm bắt tay vào nghiên cứu văn hóa quân sự, tôi đã công bố hơn 600 bài báo, viết một số cuốn sách. Riêng bộ sách “Từ cây giáo đến khẩu súng” đã in được 8 tập. Trong đó, 5 tập đầu được Đại học Michigan (Hoa Kỳ) giới thiệu trên trang điện tử của họ. Năm vừa rồi, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật đã xuất bản cho tôi hai cuốn sách. Thực ra, hai cuốn đó nằm trong công trình “Văn hóa quân sự Việt Nam - văn hóa giữ nước” của tôi dày gần 2.000 trang. Đây là công trình tôi đã nghiên cứu trong 7 năm.  

leftcenterrightdel
Ông Dương Xuân Đống. Ảnh: VĂN DƯƠNG 

Năm 2018, tôi sẽ in cuốn: “Chiến thắng-hệ thống biểu tượng văn hóa quân sự Việt Nam”. Tôi quan niệm văn hóa là hệ thống biểu tượng, văn hóa quân sự Việt Nam là một hệ thống biểu tượng chiến thắng. Tôi dự định, nếu đã nghiên cứu về các biểu tượng chiến thắng thì sẽ có một cuốn sách về nguyên nhân chiến thắng. Nguyên nhân chiến thắng của dân tộc ta rất đặc biệt, chúng ta thắng bằng phương pháp, đó là văn hóa. Việt Nam chiến thắng không bằng phương tiện chiến tranh, không bằng so sánh sức mạnh vũ khí mà bằng tư tưởng quân sự, nghệ thuật quân sự, nên tôi muốn có một cuốn sách về chiến thắng bằng phương pháp.

Nghệ thuật giữ nước là chuẩn bị kỹ càng từ sớm

PV: Nói về văn hóa giữ nước của người Việt, chúng ta hay nhắc đến cụm từ “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, hay “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”. Theo ông, những tư tưởng đó hình thành từ khi nào?

Ông Dương Xuân Đống: Thực tế cho thấy, sự nghiệp giữ nước của người Việt luôn có hai quá trình, quá trình chuẩn bị và quá trình tiến hành sự chuẩn bị đó. Nếu không chuẩn bị thì không tiến hành được. Trong bài viết 3 kỳ “Nhìn lại trận Điện Biên Phủ trên không” mà Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần đã đăng trong 3 tuần đầu tháng 12-2017 tôi đã viết, ta thắng chính vì ta biết chuẩn bị. Ta đã dự báo tình hình rất thông minh, chính xác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm dự báo ta sẽ có trận đụng đầu lịch sử với B52, từ trước đó 5 năm-năm 1967. Đây là điều dự báo có độ mẫn cảm đặc biệt của thiên tài quân sự. Năm 1967, địch thậm chí chưa nghĩ đến việc đánh ra miền Bắc, mà ta đã nghĩ trước và chuẩn bị trước. Trong chiến tranh, chưa bao giờ tôi thấy có sự dự báo trước sớm như thế. Tức là, ta thấy trước sự phát triển của tình hình, thấy rõ tính biện chứng của vấn đề. Địch tiến hành “Chiến tranh đơn phương”, ta đã nhìn ra “Chiến tranh đặc biệt”, rồi “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh”. Ta luôn lường trước rất xa. Cho nên khi Mỹ đánh ra miền Bắc bằng chiến tranh phá hoại, bằng hải quân và không quân, đánh đến đâu thất bại đến đấy, vì ta biết trước địch sẽ leo thang chiến tranh. Trận “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12-1972 là bước leo thang cuối cùng, là canh bạc của Mỹ trước khi chấp nhận thất bại hoàn toàn.

Nói lo giữ nước từ sớm, từ xa là như thế. Thực chất là ta chuẩn bị trước, đi trước mà chuẩn bị. Chính sách “Ngụ binh ư nông” của các triều đại phong kiến trước đây là một sự chuẩn bị. Rồi việc chuẩn bị tới 10 đạo quân của Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn, đều là chuẩn bị trước. Ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông cũng là nhờ chuẩn bị trước. Sự chuẩn bị đó là từ hai lần đánh Tống trước đó cả một thế kỷ. Nên quân Nguyên Mông, trong lần xâm lược thứ nhất năm 1258, dùng chiến thuật Hỏa phong như gió thổi, như lửa cháy, mà vẫn thua. Thậm chí, khi chúng xâm lược lần ba, Trần Quốc Tuấn với sự chuẩn bị kỹ lưỡng còn nói trước là ta sẽ “thắng nhàn”. Tóm lại, nghệ thuật giữ nước của ta là phải có chuẩn bị kỹ càng từ trước.

PV: Chúng ta có tìm ra người đầu tiên đề ra tư tưởng “giữ nước từ sớm, từ xa” không, thưa ông?

Ông Dương Xuân Đống: Chính thức thì chúng ta chưa rõ ai đề ra tư tưởng đó đầu tiên. Nhưng nó có từ rất sớm trong lịch sử dân tộc. Ví dụ chính sách “Ngụ binh ư nông” thì đã có từ những vương triều đầu tiên xây nền độc lập, đó là kết hợp giữa quân sự và nông nghiệp, ngày nay là kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Nước ta là nước nhỏ, từ thuở ban đầu đã luôn phải đấu tranh với các thế lực ngoại xâm lớn mạnh nên kinh tế luôn phải chuẩn bị cho quốc phòng, dựng nước phải nghĩ ngay đến giữ nước. Có hai quy luật: Một là “dựng nước đi đôi giữ nước”, hai là muốn độc lập dân tộc thì phải bảo đảm dân chủ cho nhân dân. Văn hóa quân sự Việt Nam là như thế, tôi nghiên cứu kỹ thì thấy quy luật này. Có nhiều dân tộc, nhiều quốc gia trên thế giới, nhờ vị trí địa lý nên từ khi hình thành đến nay, họ chưa bao giờ bị xâm lược. Còn dân tộc ta, hình thành, sinh sống ở một vị trí địa lý đặc biệt nên từ khi ra đời đã phải đấu tranh để tồn tại. Ở thời nào ta cũng phải lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh nhưng nhờ thế mà ta hình thành phương pháp lấy nhỏ thắng lớn. Không có phương pháp đó thì không giữ được độc lập.

leftcenterrightdel
Cán bộ. chiến sĩ Trung đoàn 246, Sư đoàn 346 (Quân khu 1) hành quân diễn tập. Ảnh: KHƯƠNG DOÃN 

Văn hóa giữ nước của ông cha ta có sức sống bền bỉ có lẽ là nhất thế giới. Thời kỳ 1117 năm Bắc thuộc, tôi tính ra là khoảng 35 thế hệ nối tiếp nhau mà ta vẫn giành lại được nền độc lập. Hiếm dân tộc nào trên thế giới bị đô hộ lâu như thế mà vẫn giành lại được độc lập. Như Nga từng bị Mông Cổ cai trị 250 năm, hay Trung Quốc bị Mông Cổ đô hộ 94 năm, nhưng không nước nào bị đô hộ dài như Việt Nam. Đó là sức sống văn hóa. Văn hóa là sáng tạo, là sự trao truyền từ đời này qua đời khác, văn hóa giữ nước mình âm ỉ như thế, mãnh liệt như thế, đời này kế đời kia không bao giờ mất, càng bị đô hộ, bị đè nén càng bùng cháy.

Vị tướng giỏi nhất?

PV: Với một nền văn hóa quân sự rực rỡ như vậy đã xuất hiện nhiều nhà tư tưởng quân sự thiên tài. Cá nhân ông có ấn tượng với những nhà tư tưởng quân sự nào trong lịch sử dân tộc?

Ông Dương Xuân Đống: Ở Việt Nam, có 3 danh nhân quân sự thực sự là những nhà tư tưởng quân sự kiệt xuất. Đầu tiên phải kể đến Trần Quốc Tuấn, rồi Nguyễn Trãi và thời đại hiện nay là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên thế giới, ở thời trung đại, không ai vượt qua được Trần Quốc Tuấn về tư tưởng quân sự. Trần Quốc Tuấn vừa là nhà chỉ huy quân sự, vừa là nhà tư tưởng quân sự. Thời trung đại, trên toàn thế giới, chỉ có Trần Quốc Tuấn hình thành được tư tưởng quân sự đáng kể. Ăngghen đã nói, thời kỳ trung đại là giai đoạn lịch sử cằn cỗi về tư tưởng. Nhưng đó là ở châu Âu. Ở châu Á thì Trần Quốc Tuấn vượt nổi lên. Trần Quốc Tuấn đã viết Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp Tông bí truyền thư... Trần Quốc Tuấn đã 3 lần đánh thắng quân Nguyên Mông, trong đó có hai lần là tổng chỉ huy. Ông có tư tưởng “dĩ đoản binh, chế trường trận". Nghĩa đen đoản binh thực ra là gươm giáo, trường trận là cung tên. Nghĩa bóng là lấy nông dân bộ binh chống lại kỵ binh du mục giỏi về cung tên. Trần Quốc Tuấn đã lấy cái vĩ đại vô cùng của nhân dân chống lại sức mạnh của kỵ binh. Cho nên dù vó ngựa Mông Cổ thời đó có tung hoành khắp thế giới thì không một đội quân nào có thể chống lại cả một dân tộc. Trần Quốc Tuấn đã có một tư tưởng quân sự rất lớn.

Đến thời Nguyễn Trãi, ông đã phát triển cao hơn, khái quát hơn. Trong “Bình Ngô đại cáo”, ông đã nói về kế “dĩ quả địch chúng, dĩ nhược chế cường”, tức lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh. Như vậy ông đã nâng lên một bước so với thời Trần Quốc Tuấn. Cũng là lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh nhưng ông đã nhìn ra là phải lấy nhỏ thắng lớn. Yếu thì không thắng được mạnh, nhưng ta lấy nhỏ thắng lớn. Nguyễn Trãi đã nhìn ra sức mạnh nhân dân qua câu: “Dựng gậy làm cờ tập hợp bốn phương manh lệ”. Manh là lưu manh, lệ là nô lệ, ông đã nhìn thấy sức mạnh cứu nước từ lớp người khốn cùng nhất trong xã hội.

Đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã phát triển tư tưởng của cha ông thành tư tưởng, chiến lược chiến tranh nhân dân tự giác. Có thể nói, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là sự hoàn chỉnh về tư tưởng chiến tranh nhân dân. Chiến tranh nhân dân nên mới có quân đội nhân dân. Quân đội ta hiện nay đã từng có nhiều tên gọi khác nhau, từ “Tự vệ đỏ”, đến “Quân giải phóng”, “Vệ quốc đoàn”, “Quân đội quốc gia” nhưng đến khi xuất hiện cái tên “Quân đội nhân dân” là ai cũng thấy trúng và từ đó không thay đổi được nữa. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã trở thành cơ sở cho đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng Cộng sản Việt Nam, là yếu tố quyết định cho chiến thắng trong các cuộc kháng chiến, cứu quốc trong thế kỷ 20. Ba nhà tư tưởng quân sự Việt Nam là sự tiếp nối, kế thừa, trao truyền, càng về sau càng phát triển. Được Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn chỉnh với bốn nội dung: Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh. Như vậy, đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng ấy phát triển cao nhất, hoàn chỉnh nhất.

PV: Thời đại Hồ Chí Minh đã xuất hiện rất nhiều vị tướng tài năng? Theo ông, vì sao thời đại Hồ Chí Minh lại xuất hiện nhiều tướng lĩnh tài năng như vậy?

Ông Dương Xuân Đống: Lịch sử tạo nên anh hùng hay nói khác đi là thời thế tạo anh hùng. Lịch sử dân tộc đã đặt ra những câu hỏi khó và các vị tướng lĩnh, những người anh hùng đã trả lời xuất sắc những câu hỏi đó. Ngược lại, những vị tướng anh hùng cũng đã góp phần tạo nên thời thế. Nhưng phải nhìn rõ là nhân dân làm nên lịch sử, có nhân dân anh hùng mới xuất hiện những vị tướng xuất chúng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi được một hãng thông tấn nước ngoài hỏi ở Việt Nam ai là vị tướng giỏi nhất, ông đã trả lời: Nhân dân Việt Nam.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

HỒNG HẢI (thực hiện)