Từ Paris, tôi chọn tàu cao tốc Thalys để sang Brussels. Giá vé 66 euro cho chưa đầy 300km không phải là rẻ nhưng rất xứng đáng. Hệ thống tàu xuyên châu Âu vô cùng hiện đại. Toa tàu sạch bong, ghế ngồi êm ru và máy lạnh mát mẻ. Tôi đi loại vé khá cao nên trên tàu có wifi nhưng không miễn phí mà phải quẹt thẻ tín dụng. Lại thêm 6 euro cho một giờ dùng internet.

Khi đề cập tới tàu cao tốc, người ta thường nhắc tới Nhật Bản, hay gần đây là Trung Quốc. Nhưng thực tế, hệ thống tàu xuyên châu Âu có chất lượng không kém ở đất nước Mặt trời mọc. Lần đầu trong đời tôi được đi tàu nhanh như thế. Vận tốc lên đến 300km/giờ từ Paris sang Brussels, kể cả thời gian ra vào các ga, tàu chỉ chạy mất 1 giờ 20 phút. Đó là khoảng thời gian thư giãn tuyệt diệu. Tàu chạy qua những cánh đồng lúa mì vàng bát ngát, rồi những cánh đồng hoa cỏ xanh biếc tít tắp đến tận chân trời. Nhìn qua ô cửa, những ngôi làng châu Âu mái ngói đỏ hình chóp ẩn mình trong những tán cây xanh rì, lại thấp thoáng những ngôi nhà thờ cao vút in bóng giữa bầu trời xanh của mùa hè châu Âu thật đẹp mắt.

leftcenterrightdel
Quảng trường lớn của Brussels

Brussels là thành phố dành cho những người thích lãng du. Brussels trong mắt tôi rất yên bình và xinh đẹp. Người dân nơi đây nói hai thứ tiếng là Pháp và Hà Lan. Tuy nhiên, họ cũng nói được tiếng Anh khá tốt và thân thiện nên tôi không ngại khi hỏi thăm đường đi, nơi muốn đến... Nơi đây có khoảng 40 địa điểm tham quan dành cho du khách. Nơi đầu tiên tôi được khuyên đến là Hoàng cung Bỉ. Hoàng cung được xây dựng từ thế kỷ 18, sau đó được vua Léopold 2 cho sửa sang lại để sử dụng làm cung điện hoàng gia. Nơi đây chỉ mở cửa cho du khách tham quan vào mùa hè. Điểm thứ hai đặc sắc hơn, đó là Công viên châu Âu thu nhỏ nằm trong Công viên Brussels, với mô hình khoảng 300 danh lam thắng cảnh tiêu biểu của hơn 10 nước châu Âu. Trong công viên rộng 250.000m2 này có khá nhiều thành tựu lịch sử, văn hóa và nghệ thuật của các nước trong cộng đồng châu Âu qua mô hình tác phẩm nghệ thuật kiệt xuất xưa lẫn nay, từ tòa công sở hiện đại của Ủy ban châu Âu đến các cung điện lộng lẫy, nhà thờ nguy nga, các cối xay gió hiền hòa hay tu viện trang nghiêm soi bóng bên hồ nước. Đây có lẽ là công trình Brussels xây dựng để xứng với cái danh “trái tim của châu Âu”.

Như nhiều thành phố châu Âu khác, Brussels cũng có Quảng trường lớn. Đây là điểm nhấn nổi bật của thành phố. Quảng trường lớn Brussels có diện tích 20.000m2, được xây vào thế kỷ 11 với nền lát đá hoa cương. Quảng trường này đã được UNESCO ghi vào danh sách di sản văn hóa nhân loại và từng được đại văn hào Victor Hugo ca tụng là “quảng trường đẹp nhất thế giới” vì được bảo tồn tốt nhất châu Âu. Bao quanh quảng trường là những tòa nhà tráng lệ, được xây dựng từ thế kỷ 15, tạo nên một khung cảnh nguy nga. Phía nam quảng trường là Tòa thị chính, công trình kiến trúc cổ Gothique điển hình được khởi công xây dựng từ năm 1402. Đối diện Tòa thị chính là Bảo tàng thành phố. Ở phía đông quảng trường có khách sạn Thiên nga trắng nổi tiếng, bởi đây là nơi 150 năm trước, Mác và Ănghen từng ở trong suốt 3 năm lưu lại Bỉ (1845-1848) và đã hoàn thành tác phẩm lớn “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”.

Brussels có hàng nghìn công trình kiến trúc giá trị nhưng công trình nổi tiếng nhất lại rất “nhỏ nhoi”. Đó là bức tượng Manneken Pis, hay còn gọi là “Công dân số 1” của Brussels, cũng còn một cách gọi vui là “Chú bé tồng ngồng đứng tè”. Giống như tháp Eiffel của Pháp hay cối xay gió của Hà Lan, Manneken Pis trở thành biểu tượng không chính thức của Brussels và là một trong những tượng đài nổi tiếng nhất châu Âu. Bức tượng cao 60cm, đặt trên đài đá hoa cương ngoài trời, cao 2m với mái tóc xoăn, chiếc mũi hếch này là tác phẩm của bậc thầy điêu khắc Jerome Duquesnoy hoàn thành vào năm 1619, đến năm 1817 được thay bằng bức tượng đồng.

Chiều về, nắng trên quảng trường lớn đã nhạt, tôi lang thang dọc con đường nhỏ Bouchers. Quả thật không gì thú vị bằng dừng chân ở một trong các quán bên đường. Nơi đó có bán đủ loại thức ăn, từ món truyền thống của Bỉ đến các món ăn Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Nhật Bản... Thế nhưng chớ quên thưởng thức món “moule mariniere”-đặc sản ốc nổi tiếng của Bỉ.

Ở Brussels, giá cả sinh hoạt không hề rẻ. Vào quán cà phê hay những nhà hàng bình dân, các món đều có giá trên dưới 10 euro. Bữa ăn tối nhẹ của tôi gồm một burger gà, một phần khoai tây chiên nhỏ và chai coke nhỏ đã tiêu tốn 15 euro.

Trời châu Âu mùa hè thật lâu tối. Ăn xong, tôi tiếp tục lang thang mong đến tối để ngắm hoàng hôn và xem thử Brussels ban đêm. Thế nhưng chờ đến hơn 22 giờ mà trời vẫn sáng trưng, đành bắt taxi về khách sạn còn ngủ dưỡng sức cho hành trình ngày mai đi Brugge-thành phố được ví như Venice của phía bắc châu Âu.

Bài và ảnh: VŨ QUANG ANH