Cải lương đang là loại hình nghệ thuật truyền thống nhận được sự quan tâm lớn của truyền thông và giới chuyên môn hiện nay. Có được điều này là bởi nghệ thuật cải lương (NTCL) vừa tròn 100 năm hình thành và phát triển. Liên tục các hoạt động chào mừng kỷ niệm một thế kỷ NTCL đã và đang diễn ra sôi nổi, rộng khắp ở TP Hồ Chí Minh và các địa phương Nam Bộ từ giữa năm 2018 đến nay. Liên hoan Cải lương toàn quốc năm 2018 đang diễn ra tại tỉnh Long An chính là điểm nhấn quan trọng trong chuỗi chương trình hoạt động chào mừng 100 năm NTCL.

Mở rộng cửa cho không gian sáng tạo

Liên hoan Cải lương toàn quốc 2018 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Long An chỉ đạo; Cục Nghệ thuật biểu diễn, Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Long An là các đơn vị đồng chủ trì tổ chức. Liên hoan diễn ra từ ngày 5-9 đến 19-9 với sự tham dự của 32 vở diễn đến từ 25 đơn vị NTCL trên cả nước, trong đó có 8 đơn vị ngoài công lập, đều ở TP Hồ Chí Minh. Theo đại diện các đơn vị tổ chức, việc chọn Long An làm địa điểm đăng cai liên hoan bởi đây chính là nơi phát tích của nhạc lễ Nam Bộ-nguồn gốc của nhạc tài tử, đờn ca tài tử và cải lương. Vùng đất này là chiếc nôi sinh ra và nuôi dưỡng những tài danh của NTCL qua các thời kỳ như: Nhạc sư Nguyễn Quang Đại (thầy Ba Đợi), các nghệ sĩ: Út Bạch Lan, Mỹ Châu, Minh Vương... Khán giả vùng sông nước miệt vườn đang vào mùa nước nổi, sẽ có nhiều thời gian, tâm trạng để dành tình yêu cho NTCL, đến sân khấu cổ vũ, thưởng thức các vở diễn, sản phẩm lao động nghệ thuật đầy tâm huyết, miệt mài của các nghệ sĩ. Riêng các vở diễn của 8 đơn vị nghệ thuật ngoài công lập được biểu diễn ngay tại sân khấu của mỗi đơn vị.

leftcenterrightdel
Cảnh trong vở “Cuộc đời của mẹ” (Đoàn Cải lương Long An). Ảnh: THANH TÂM

Nhắc đến liên hoan lần này lại nhớ 6 năm trước, cũng vào kỳ này, Liên hoan Cải lương toàn quốc năm 2012 được tổ chức tại tỉnh Đồng Nai. Suốt 14 ngày đêm sân khấu sáng đèn tại trung tâm tổ chức sự kiện của tỉnh, vị trí đắc địa nhất của các hoạt động nghệ thuật, các nghệ sĩ đã lần lượt biểu diễn 27 vở, là tinh hoa NTCL của các đơn vị nghệ thuật trên toàn quốc ở giai đoạn đó. Nhiều vở diễn chất lượng tốt, được đầu tư dàn dựng công phu, nhưng khi diễn thì chỉ có Ban tổ chức, Ban giám khảo và lác đác một vài đơn vị bạn ngồi xem. Các hàng ghế khán giả trống huơ trống hoác khiến nghệ sĩ nhập vai trên sân khấu rơi nước mắt không chỉ vì hóa thân vào số phận bi thương của nhân vật, mà bởi tận trong sâu thẳm tâm can, họ mang một nỗi buồn dai dẳng. Rằng đổ mồ hôi, công sức tập luyện cả năm trời để dựng vở, nhưng khi đem sản phẩm ra công chúng thì ế ẩm. Nghệ sĩ biểu diễn mà sân khấu vắng khán giả, cảm hứng sáng tạo chắc chắn sẽ rất khó để thăng hoa. Sau liên hoan, một số ý kiến cho rằng việc chọn Đồng Nai làm địa điểm tổ chức liên hoan không phải là một quyết định sáng suốt. Bởi đây không phải là mảnh đất của đờn ca tài tử, của cải lương như vùng sông nước miệt vườn. Đó cũng là một trong những lý do để đưa liên hoan lần này về với Long An. Tại liên hoan lần này, phạm vi đối tượng tham gia được mở rộng. Các đơn vị NTCL chuyên nghiệp công lập và ngoài công lập có tư cách pháp nhân, có thời gian hoạt động liên tục từ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm diễn ra liên hoan là đủ điều kiện tham gia. Ban tổ chức không hạn chế nội dung, đề tài, không tham gia duyệt và góp ý chuyên môn trước cho các đoàn để tạo điều kiện cho các đơn vị thỏa sức sáng tạo.

Trở lại với những ngày hội của NTCL trên đất Long An những ngày này, bầu không khí liên hoan đã tác động, lan tỏa đến đời sống văn hóa tinh thần của một bộ phận người dân vùng sông nước miệt vườn. Việc sân khấu mở cửa tự do và công tác quảng bá, tuyên truyền được tỉnh Long An tổ chức khá bài bản đã đem sắc âm đa dạng của ngày hội NTCL đến với khán giả. Trừ những vở diễn vào ban ngày ít người xem, còn thì vào buổi tối, ban đêm, nhà hát đều đông khán giả. Đặc biệt, tại các sân khấu ngoài công lập ở TP Hồ Chí Minh, dù các vở diễn đều tổ chức bán vé nhưng vẫn thu hút được lượng khán giả tương đối, đủ để làm hài lòng các nghệ sĩ. Các vở như: “Rạng ngọc Côn Sơn” của Công ty TNHH Dịch vụ giải trí Kim Tử Long; “Hồn của đá” (Hòn vọng phu) của Công ty TNHH Nguyễn Vĩnh Lộc; “Thái hậu Dương Vân Nga” của sân khấu Lê Hoàng… là những điểm sáng của sân khấu ngoài công lập. Trong lúc các đơn vị nghệ thuật công lập phải sử dụng ngân sách để dựng vở dự liên hoan và phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền của địa phương, việc các sân khấu xã hội hóa ở TP Hồ Chí Minh bán được vé ở những vở diễn cải lương thực sự là niềm vui, sự khích lệ lớn đối với nghệ sĩ…

Biên độ của cải tiến và bản sắc cải lương

Bản chất của NTCL, theo cố GS, TS Trần Văn Khê, nghĩa là “sửa đổi để trở nên tốt hơn”. Hành trình một thế kỷ hình thành và phát triển NTCL đã chứng minh điều đó. Phát triển, cải tiến, nâng cao từ cái gốc đờn ca tài tử, tiếp đó là hình thức ca ra bộ, NTCL vươn đến đỉnh cao và ngự trị trong đời sống văn hóa tinh thần đồng bào Nam Bộ suốt nhiều thập kỷ. Khi các loại hình giải trí khác lên ngôi và sự bùng nổ của các phương tiện nghe nhìn, lướt nét, NTCL cùng với nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống khác dần bị khán giả, nhất là khán giả trẻ quay lưng. Trong cơn bĩ cực của cải lương những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, giới nghệ sĩ cải lương phải chạy đôn chạy đáo sang các lĩnh vực nghệ thuật khác tìm kế mưu sinh. Nghệ sĩ cải lương đi đóng phim, diễn hài, hát nhạc trẻ, dẫn chương trình… Sự pha tạp của các loại hình nghệ thuật nhằm đáp ứng thị hiếu nhất thời của khán giả khiến NTCL rơi vào cảnh thiếu trầm trọng nguồn nhân lực, khan hiếm kịch bản. Bức tranh ảm đạm này thể hiện rõ nhất tại Liên hoan Cải lương toàn quốc năm 2012. Trong nhiều vở diễn, nhân vật là những cô cậu học trò tuổi 16-17, nhưng diễn viên thủ vai lại là những nghệ sĩ gần 50 tuổi. Dù đã hóa trang rất kỹ lưỡng, nhưng nét mặt, phong cách, giọng ca của những nghệ sĩ buộc phải “cưa sừng làm… học sinh” không thể khỏa lấp được sự chênh lệch quá lớn về tuổi tác. Bên cạnh đó, sự cải tiến của NTCL có biểu hiện quá đà. Nhằm đáp ứng thị hiếu khán giả trẻ, các vở diễn cải lương tập trung phản ánh những đề tài “nóng” của đời sống xã hội. Thiếu kịch bản nên nhiều đơn vị nghệ thuật phải chuyển thể kịch bản cải lương từ truyện ngắn, kịch bản kịch nói, điện ảnh… Sự lắp ghép, chắp vá ấy khiến cải lương không còn là chính mình. Nghệ sĩ “nói” nhiều hơn “ca”, cách trang trí sân khấu gần với nghệ thuật kịch nói. Ngay tên gọi của nhiều vở diễn cũng “nóng” chả kém phim hình sự, phim hành động…

Tại hội thảo khoa học tìm hướng đi cho NTCL mới đây, nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu và nghệ sĩ cải lương cho rằng, chúng ta đã “cải” quá nhiều khiến cải lương phai nhạt bản sắc đặc trưng. Ngay cả những chương trình giải trí trên sóng truyền hình, việc đưa cải lương vào sân chơi dành cho giới trẻ, thoạt nhìn cứ ngỡ đó là cách làm hay để cải lương đến gần hơn với khán giả, nhưng sâu xa của vấn đề chính là sự dễ dãi, biến NTCL thành một thứ “gia vị” cho những trò chơi giải trí. Điều này không những không giúp cải lương phát triển mà còn khiến khán giả có những cái nhìn thiếu chuẩn mực về giá trị nghệ thuật truyền thống.

“Cải” rất nhiều nhưng sức sống của cải lương vẫn èo uột. Ngay ở những sân khấu xã hội hóa, cải lương cũng chỉ là loại hình thứ yếu, thi thoảng mới có một vở. Sản phẩm chủ lực để các sân khấu xã hội hóa thu hút khán giả vẫn là sân khấu hài, kịch nói. Tình trạng xuống cấp của các rạp hát, cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật lạc hậu khiến các đơn vị nghệ thuật phải “giật gấu vá vai”, lo “ăn đong” cho từng vở diễn. Nhiều khi đầu tư tiền của vào một vở diễn cải lương nhưng khi bán vé thì khán giả èo uột nên “lương” cho nghệ sĩ chả được bao nhiêu, thu không đủ bù chi.

Sau một thời gian cải tiến theo khuynh hướng hiện đại hóa, có nhiều biểu hiện pha tạp, lai căng, xa rời bản chất cốt lõi của cải lương nhưng không mang lại hiệu quả như mong muốn, NTCL hiện nay đang có xu hướng trở lại bản chất vốn có, để nó được là chính nó. Bức tranh toàn cảnh về tinh hoa NTCL đương đại thể hiện trong Liên hoan Cải lương toàn quốc năm 2018 đã phần nào nói lên điều ấy. Biểu hiện rõ nhất chính là đề tài trong các vở diễn. Không còn thấy những vở diễn mang những cái tên như… phim hành động trước đây; các đoàn nghệ thuật mang đến liên hoan lần này những tác phẩm mang hồn cốt dân gian, dân tộc, lấy tích xưa, chuyện cũ để truyền thông điệp, rút ra bài học cho cuộc sống hôm nay. Điểm qua một số vở diễn, chúng ta có thể thấy rõ điều đó: “Cuộc đời của mẹ” (Đoàn Cải lương Long An); “Chiếc áo thiên nga” (Nhà hát Cải lương Việt Nam); “Bến đợi” (Đoàn Cải lương Hương Tràm); “Kiếp tằm” (Đoàn Nghệ thuật Quảng Ninh); “Bến nước Ngũ Bồ” (Đoàn NTCL Nam Định); “Thái hậu Dương Vân Nga” (sân khấu Lê Hoàng); “Hiu hiu gió bấc” (Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang)... Chính vì vậy, các vở có “đất” diễn cho nghệ sĩ thể hiện tài năng, lấy “ca” là chủ đạo. “Ca” là chính, “nói” là phụ.

Cải tiến, đổi mới NTCL là xu thế tất yếu. Tuy nhiên, biên độ của nó đến đâu để không đánh mất bản sắc mới là vấn đề đáng quan tâm. Dù vẫn chưa thoát khỏi khó khăn, song những chuyển động của NTCL hiện nay là dấu hiệu đáng mừng. Sau những thăng trầm, chật vật, cũng sẽ đến lúc người ta phải quay về với giá trị cốt lõi của bản sắc văn hóa. Đó là nền tảng vững chắc bảo đảm tính bền vững cho mọi sự vận động, biến đổi và phát triển...

THANH KIM TÙNG