Ngôi nhà chung

Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội) được biết đến là một nơi hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch mang tính quốc gia, phát huy và khai thác các di sản văn hóa truyền thống của 54 dân tộc anh em. Sau gần 10 năm kể từ ngày khai trương, nơi đây đã diễn ra nhiều hoạt động phong phú, đặc sắc, với sự tham gia của gần 5.000 đồng bào đến từ 54 dân tộc thuộc 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó có nhiều lễ hội truyền thống đặc sắc, các hội nghị, hội thảo, trưng bày, triển lãm, hoạt động dân ca, dân vũ, thể thao dân tộc, giao lưu, trình diễn… với nhiều chủ đề ấn tượng, thiết thực của đồng bào các dân tộc. Các hoạt động này đã góp phần tôn vinh bản sắc văn hóa các dân tộc, làm giàu thêm nền văn hóa Việt Nam, đồng thời giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, góp phần củng cố, tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết các dân tộc, giúp các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam hiểu và gần gũi nhau hơn, giúp nhau cùng phát triển.

leftcenterrightdel
Màn trình diễn văn nghệ của đồng bào dân tộc Cơ Tu.

Những năm gần đây, Làng đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với những ai thích du lịch và khám phá văn hóa các dân tộc. Cùng việc thực hiện đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020 và chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lồng ghép trong các hoạt động Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19-4), Ban Quản lý Làng đã mời các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, đồng bào các dân tộc thiểu số đến sinh sống, hoạt động hằng ngày tại Làng. Hiện tại, có đồng bào của 11 dân tộc đang sống ở Làng: Mông (Hà Giang), Khơ Mú (Điện Biên), Thái (Sơn La), Tày (Thái Nguyên), Mường (Hòa Bình), Dao (TP Hà Nội), Tà Ôi, Cơ Tu (Thừa Thiên-Huế), Raglai (Ninh Thuận), Ê Đê (Đắc Lắc), Khmer (Sóc Trăng). Tại đây, đồng bào được hỗ trợ để tái hiện văn hóa dân tộc, thể hiện nghề thủ công truyền thống, dân ca, dân vũ, kết hợp với du lịch… góp phần thiết thực vào hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc, địa phương, vùng, miền. Với ý nghĩa “để chủ thể văn hóa tự giới thiệu về mình”, các nghệ nhân, đồng bào dân tộc thiểu số đã luân phiên từ các địa phương về Làng tham gia các hoạt động cũng như giới thiệu được những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc mình qua cuộc sống hằng ngày ở đây, tạo chuyển biến tích cực trong việc khai thác và hoạt động văn hóa du lịch ở Làng. Nhờ đó đưa Làng trở thành điểm đến hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước.

Khi đồng bào “ngại” sống ở Làng

Hiện nay, phần lớn các khu chức năng trong quy hoạch của Làng vẫn đang phải kêu gọi đầu tư từ nguồn xã hội hóa. Vì vậy, một trong những khó khăn, vướng mắc của Làng chính là vấn đề kinh phí cho công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống dân tộc còn hạn chế trong khi công tác xã hội hóa còn yếu. Cùng với đó, trong một số hoạt động, cơ chế phối hợp giữa Làng với các địa phương chưa được bền chặt; nhiều hoạt động chưa mang lại hiệu quả như mong muốn khi chưa phản ánh, bao quát được toàn bộ các dân tộc Việt Nam mà chỉ tập trung vào một số dân tộc, chủ yếu là các dân tộc đang có đồng bào sinh sống tại Làng. Ngoài ra, việc tăng thêm thu nhập ngoài tiền hỗ trợ cho đồng bào sống ở Làng và mời đồng bào các dân tộc khác (ngoài 11 dân tộc nói trên) về sống thường xuyên tại đây cũng đang là vấn đề khó khăn.

Văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số thể hiện ở cả văn hóa vật thể và phi vật thể, từ cách xây dựng nhà ở, trang phục truyền thống, sinh hoạt hằng ngày đến ngôn ngữ, tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, tập tục, lễ hội truyền thống... Những yếu tố ấy được bảo tồn trong môi trường bản làng với các mối quan hệ xã hội trong đó. Tuy nhiên, trong không gian Làng chỉ có thể tái hiện phần nào những nét văn hóa ấy. Việc sinh sống của đồng bào các dân tộc tại đây còn nhiều hạn chế dẫn đến việc đồng bào nhiều dân tộc “ngại” đến sinh sống ở Làng. Mấu Thị Tiệm, 17 tuổi, người dân tộc Raglai (Ninh Thuận) đã sống tại Làng hai tháng kể: “Ở làng em, mọi người làm nghề rèn, đan gùi nhưng ở ngoài này chúng em không có những vật dụng, nguyên liệu để làm những việc đó. Ở đây khác quê em rất nhiều”. Ông Trần Đăng Trung, Phó trưởng phòng Quản lý văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh An Giang cũng chia sẻ, bản thân ông từng trực tiếp đi vận động đồng bào người Chăm Islam về Làng sinh sống, giao lưu văn hóa nhưng... không được. Các dân tộc thiểu số đều có những tập tục riêng và việc thay đổi về nơi ở, điều kiện sinh sống là một khó khăn với họ. Bản thân đồng bào không có nhu cầu thay đổi chỗ ở, thêm việc cơ chế chính sách khi ở Làng chưa đủ để thu hút họ bỏ công việc ở quê đến Làng sống trong khi nguồn thu nhập thêm cho đồng bào từ các dịch vụ du lịch ở Làng còn ít… Bên cạnh đó, những mặt trái trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế đã và đang có những ảnh hưởng, tác động theo chiều hướng tiêu cực đến đời sống các dân tộc thiểu số, đặc biệt là thế hệ trẻ, làm cho nhiều người kém mặn mà với các hoạt động gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Vì vậy, việc huy động được đồng bào các dân tộc đến Làng là sự nỗ lực rất lớn của Làng cũng như các cơ quan chức năng.

leftcenterrightdel
Đồng bào dân tộc Tày ở Thái Nguyên hát Then tại Làng văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Trong hai năm 2016-2017, Làng đã đón tiếp, phục vụ hơn một triệu lượt khách tham quan. Lượng khách đến Làng đang có xu hướng tăng; khách đi theo tour của các công ty lữ hành du lịch, khách đi theo đoàn đã tăng lên. Tuy nhiên, theo ông Đặng Gia Duẩn, Phó giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắc Lắc thì những hoạt động của Làng mặc dù đã mang lại nhiều ý nghĩa, giá trị tích cực trong việc bảo tồn giá trị truyền thống của các dân tộc thiểu số, gắn kết khối đại đoàn kết các dân tộc anh em, nhưng lại chưa chú trọng đến việc kết nối du lịch nên lượng khách đến với Làng chưa được như kỳ vọng so với quy mô của Làng. Đây cũng là một thách thức cần sớm khắc phục trong thời gian tới.

Chung sức, đồng lòng cho ngôi nhà chung

Một trong những nội dung phương hướng hoạt động của Làng thời gian tới, đó là có các cơ chế chính sách đãi ngộ phù hợp để động viên, khích lệ đồng bào các dân tộc, đặc biệt là nghệ nhân, già làng, người có uy tín, chức sắc tôn giáo, trí thức, người dân tộc thiểu số trong bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc tại địa phương, Trung ương và trực tiếp tại Làng… qua đó, tăng hiệu quả các hoạt động của Làng. Ngoài ra, theo ông Đặng Gia Duẩn, cần có kế hoạch quảng bá hiệu quả để Làng không chỉ là ngôi nhà chung của các dân tộc anh em mà còn là điểm đến hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Qua đó cũng sẽ thiết thực tạo được nguồn thu nhập cho bà con các dân tộc sống tại Làng, giúp bà con yên tâm gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

 Theo ông Trần Đăng Trung thì trước tiên, Làng phải tập trung được nhiều nguồn lực, khi đủ lực rồi, cùng với sự kết hợp của các địa phương thì các hoạt động bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số, phát triển du lịch văn hóa cũng sẽ hiệu quả hơn. Đồng thời, cần có hội thảo chuyên đề về các dân tộc sống tại Làng và đưa ra được giải pháp về việc đưa đồng bào các dân tộc đến Làng sinh sống hiệu quả.

Tuy nhiên, để Làng không chỉ là ngôi nhà chung của các dân tộc anh em mà còn làm tốt nhiệm vụ bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc Việt Nam thì “cần sự chung sức đồng lòng từ cấp trên đến cấp dưới, từ mỗi người dân, mỗi dân tộc, bản làng…” như lời Già làng A Ma Loan, dân tộc Ê Đê từng nói.

Bài và ảnh: DƯƠNG THU