Theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), tính đến năm 2009, cả nước có khoảng 1,9 triệu người cao tuổi (khoảng 22% tổng số người cao tuổi) đang hưởng hưu trí; gần 140.000 người cao tuổi cô đơn nghèo, không nơi nương tựa được hưởng trợ cấp xã hội (xấp xỉ 1,7% dân số cao tuổi); gần 5,6 triệu người cao tuổi (khoảng 60% tổng dân số cao tuổi) đang tham gia bảo hiểm y tế, trong đó hơn 60% số này có thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Tuy nhiên, nhìn chung tỷ lệ bao phủ của hệ thống an sinh xã hội đối với người cao tuổi còn rất hạn chế và chỉ tập trung vào một số nhóm người cao tuổi. Số lượng người cao tuổi đang tăng nhanh hơn bất kỳ nhóm dân số nào khác nên chỉ số già hóa cũng gia tăng, trong khi tỷ số hỗ trợ tiềm năng lại giảm đáng kể. Dân số nước ta đang già hóa một cách nhanh chóng, tuổi thọ bình quân ngày càng tăng trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm.

Thách thức cho an sinh xã hội

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa có thể tác động tiêu cực đến cơ cấu hộ gia đình truyền thống ở Việt Nam và vì thế chúng có thể bị phá vỡ hoặc không thể bảo vệ hoàn toàn cho người cao tuổi trước nhiều nguy cơ rủi ro. Các đánh giá của Ngân hàng Thế giới năm 2008 cho thấy, hộ gia đình có người cao tuổi có xác suất nghèo cao hơn nhóm hộ gia đình không có người cao tuổi; hộ gia đình người cao tuổi do phụ nữ làm chủ hộ và ở nông thôn có xác suất nghèo cao hơn nhiều các hộ gia đình khác. Cơ cấu hộ gia đình nhiều thế hệ vẫn là cơ chế bảo đảm chủ yếu đối với đời sống của người cao tuổi, nhưng nó có thể bị phá vỡ trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng với dòng lao động di cư lớn-hai nhân tố tạo nên loại cơ cấu gia đình mới ngày càng phổ biến, đó là gia đình “khuyết thế hệ” mà ở đó người cao tuổi càng trở nên dễ tổn thương hơn. Đa phần người cao tuổi hiện sống ở nông thôn và dự báo đến năm 2020 thì tỷ lệ này sẽ giảm nhưng không nhiều (theo UNFPA năm 2010).

Cũng theo đánh giá của UNFPA, hệ thống bảo trợ xã hội hiện nay lại đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức phát sinh từ bản chất của hệ thống và cách thức vận hành. Mặc dù hệ thống bảo hiểm xã hội hiện nay đã được mở rộng với 8,5 triệu người tham gia vào năm 2008, nhưng nó vẫn chưa bao phủ được đúng đối tượng. Cụ thể, hệ thống bảo hiểm xã hội bắt buộc có mức bao phủ thấp và tập trung chủ yếu người đang làm việc ở khu vực nhà nước, sống ở thành thị và không phải là người nghèo, trong khi hệ thống bảo hiểm xã hội tự nguyện vẫn còn nhiều hạn chế. Mặc dù lương hưu là nguồn thu nhập quan trọng của hộ gia đình người cao tuổi nhưng phần lớn khoản chi trả lương hưu hiện nay của hệ thống lại thuộc vào hai nhóm thu nhập cao nhất và chỉ có 2% thuộc về nhóm nghèo nhất.

Với phương thức quản lý quỹ bảo hiểm xã hội như hiện nay, một số dự báo cho thấy quỹ bảo hiểm xã hội sẽ thâm hụt trong một vài thập kỷ tới, trong đó việc tăng tỷ lệ đóng góp như hiện nay chỉ là giải pháp mang tính tình thế. Hệ thống hoạt động theo cơ chế "thực thanh, thực chi" hiện nay có thể sẽ phát sinh một lượng nợ lương hưu tiềm ẩn lớn-nhân tố tác động mạnh đến ngân sách Nhà nước cũng như quỹ bảo hiểm xã hội và thế hệ tương lai sẽ phải gánh vác. Để cân bằng quỹ, người lao động phải tăng mức đóng lên xấp xỉ 30% trong vòng 20 năm tới và việc duy trì hệ thống hiện nay sẽ khiến Việt Nam phải trả một lượng lương hưu tiềm ẩn gần bằng GDP. Đây là nhân tố bức thiết đòi hỏi cần phải cải cách hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam ngay những năm tới đây.

leftcenterrightdel
Người cao tuổi ở Hà Nội tham gia các hoạt động thể dục buổi sáng quanh hồ Hoàn Kiếm. Ảnh: DƯƠNG THU

Vấn đề chăm sóc y tế cho người cao tuổi đã được cải thiện, nhưng khả năng tiếp cận của các nhóm có thu nhập thấp, yếu thế còn thấp. Hơn nữa, chi phí chăm sóc người cao tuổi cao gấp 7-8 lần chi phí chăm sóc trẻ em nên nếu không có chính sách phù hợp trong việc chăm sóc người cao tuổi thì dân số già yếu sẽ tạo ra gánh nặng lớn cho toàn xã hội.

Bên cạnh hệ thống bảo hiểm xã hội, nhiều hệ thống trợ cấp xã hội nằm trong các chương trình mục tiêu cũng đã và đang được thực hiện. Tuy nhiên, tác động của các chương trình này vẫn còn hạn chế dù chúng đã góp phần giảm nghèo và tổn thương cho một bộ phận dân số.

Xu hướng già hóa dân số nhanh chóng ở nước ta cũng đang tạo ra những thách thức mới đối với sự nghiệp phát triển con người, bởi nó có ảnh hưởng lớn tới tăng trưởng kinh tế và các chương trình an sinh xã hội cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của nhóm dân số cao tuổi-đang được coi là nhóm thiệt thòi và dễ bị tổn thương nhất hiện nay.

Thêm vào đó, ở Việt Nam, tuổi thọ trung bình đã tăng tới 72,2 tuổi đối với cả nam giới và nữ giới, con số này tương đương với các quốc gia khác trong khu vực có mức phát triển cao hơn. Tuy nhiên, tuổi thọ khỏe mạnh của dân số lại chưa cao, chỉ đạt trung bình 58,3 tuổi, trung bình mỗi người cao tuổi ở Việt Nam phải chịu ít nhất là 14 năm sống chung với bệnh tật trong những năm cuối của cuộc đời. Người cao tuổi Việt Nam phải chịu gánh nặng kép trong chăm sóc sức khỏe, trong đó đã có sự thay đổi từ bệnh lây nhiễm sang các bệnh không lây nhiễm và các bệnh mạn tính. Đồng thời, các bệnh mới đang xuất hiện cùng với sự thay đổi trong cách sống ngày càng trở nên phổ biến như ung thư, căng thẳng và trầm cảm về tâm thần... Những xu hướng thay đổi này đòi hỏi nhiều chi phí chăm sóc y tế hơn, cũng có nghĩa là rủi ro dẫn tới khuyết tật cho người cao tuổi sẽ cao hơn.

Lo cho tuổi già từ khi còn trẻ

Dựa trên thực trạng hệ thống bảo trợ xã hội đã nêu và xu hướng già hóa dân số trong một vài thập kỷ tới, từ nay cho đến năm 2020 và dài hơn nữa, UNFPA đề xuất cải cách hệ thống theo hướng đa dạng hóa hình thức bảo trợ với những chú trọng đặc biệt tới hệ thống hưu trí và trợ cấp. Hệ thống trợ cấp xã hội, đặc biệt là hệ thống dành cho người cao tuổi, cần được mở rộng theo hướng phổ cập. Các nghiên cứu cho thấy việc mở rộng hệ thống trợ cấp theo hướng phổ cập tới người cao tuổi vùng nông thôn và nữ giới cao tuổi sẽ có tác động giảm nghèo lớn trong khi chi phí tương đối thấp và phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt Nam ngay cả trong dài hạn. Việc cung cấp mức hưởng thấp hơn với số lượng người hưởng nhiều hơn sẽ có tác động giảm nghèo cao hơn và chi phí thấp hơn so với hệ thống cung cấp mức hưởng cao nhưng số lượng người hưởng ít.

Cuối cùng, trong dài hạn, Việt Nam cần tổ chức các nhà dưỡng lão hoặc trung tâm chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. Đây là chính sách cần thiết để đón nhận dòng người cao tuổi ngày càng lớn và trong bối cảnh người cao tuổi ngày càng phải sống độc lập hơn với con cái hoặc người thân thuộc.

Việt Nam đã bắt đầu bước vào kỷ nguyên dân số già và tỷ lệ người cao tuổi sẽ ngày càng cao. Vì vậy, cần tích cực chuẩn bị điều kiện đáp ứng nhu cầu của một xã hội già hóa: Xây dựng cơ sở vật chất phục vụ người cao tuổi và đẩy mạnh giáo dục, truyền thông về vấn đề này. Chính sách đối với người cao tuổi cần hướng đến khu vực nông thôn, xây dựng và triển khai chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân. Đẩy mạnh nghiên cứu các hình thức hoạt động cho người cao tuổi, trước hết là các hoạt động kinh tế phù hợp tăng thu nhập ở nông thôn. Như vậy, cần có chính sách thu hút, khuyến khích, hỗ trợ người cao tuổi có khả năng tham gia làm việc tạo thu nhập, trước hết là trong khu vực kinh tế hộ. Khuyến khích người dân "lo cho tuổi già từ khi còn trẻ”, tích cực sản xuất, kinh doanh để có thể “giàu trước khi già” và tham gia bảo hiểm xã hội khi hình thức bảo hiểm này được triển khai.

LƯƠNG THỊ THU TRANG