Ở tuổi đã lên cụ, lên bà, họ xưng hô với nhau bằng “bà”. Khách mới đến chơi nhà, nếu không được giới thiệu trước, ít ai biết rằng mối quan hệ của họ là mẹ chồng-nàng dâu. Đó chính là Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Lan, 96 tuổi và con dâu Nguyễn Thị Huệ, 74 tuổi, ở xã Xuân Giang, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

Từ đầu xã Xuân Giang hỏi thăm nhà mẹ Lan, ai cũng biết. Mấy cháu nhỏ đang chơi trên triền đê còn dẫn chúng tôi vào tận nhà mẹ. Một người phụ nữ dáng nhỏ nhắn, lưng hơi còng đón chúng tôi ở cổng với nụ cười tươi để lộ hàm răng đen nhánh đều tăm tắp. Cứ ngỡ đó là Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Lan, chúng tôi ríu rít chào. Bỗng từ trong nhà có tiếng gọi vọng ra: “Bà Huệ ơi, bà nói chuyện với ai thế?”. Người phụ nữ đón chúng tôi cười, bảo: “Đấy, cụ tôi đấy, tôi chỉ là con dâu thôi”… Chúng tôi theo chân bà Huệ vào nhà.

Ngôi nhà ba gian hai chái, đã được các đoàn thể và chính quyền địa phương xã Xuân Giang sửa chữa hồi năm ngoái, lại được bàn tay của những người phụ nữ chăm sóc nên khá sạch sẽ, ngăn nắp. Vừa bước vào nhà, tôi ngỡ ngàng trước một cụ bà với khuôn mặt phúc hậu, mái tóc bạc trắng, miệng móm mém nhưng cười rất tươi. Và đây mới chính là mẹ Nguyễn Thị Lan. Mẹ có chồng và con trai duy nhất là liệt sĩ. 

leftcenterrightdel
Mẹ Nguyễn Thị Lan (bên phải) và con dâu Nguyễn Thị Huệ. 
Rót nước mời khách xong, sợ mẹ đói, bà Huệ xin phép xuống bếp lấy cơm cho cụ ăn vì cũng đã hơn 11 giờ trưa. Những gì chúng tôi được nghe kể về hai người phụ nữ này, hôm nay được chứng kiến tận mắt. Bà Huệ cẩn thận gỡ từng miếng cá, nhặt từng cái xương, xé từng miếng thịt nhỏ để mẹ dễ nhai. Vừa làm, bà Huệ vừa bảo:“Cụ tôi bây giờ không còn nhanh nhẹn, khỏe mạnh như mấy năm trước, cụ ăn ít, phải ăn nhiều bữa và phải nấu nhừ”. Trước khi ăn, bà Huệ lấy khăn lau mặt cho mẹ, buộc lại tóc cho gọn gàng. Hơn 50 năm sống cùng mẹ chồng, bà hiểu rõ tâm tính của mẹ. Còn mẹ Lan thì như đã quen với những hành động của con dâu. Mẹ ngồi hiền từ, cười móm mém. Vừa chăm cho mẹ chồng ăn cơm, bà Huệ vừa kể cho chúng tôi nghe câu chuyện của mẹ con bà.

Xưa kia mẹ Lan là một người con gái đẹp người, đẹp nết nhất làng, kết duyên với chàng trai Nguyễn Văn Phòng cùng quê. Có với nhau một mặt con, ông nghe theo tiếng gọi của Cụ Hồ đi kháng chiến chống Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc nhưng ông thì mãi mãi không về, năm đó mẹ 28 tuổi. Tin ông hy sinh làm mẹ tưởng chừng như gục ngã. Nhưng rồi mẹ gắng gượng sống, để nuôi dạy con trai duy nhất-anh Nguyễn Xuân Quý nên người. Năm 1964, anh Quý xây dựng gia đình với chị Nguyễn Thị Huệ và sau đó cháu gái Nguyễn Thị Thanh ra đời khiến mẹ vui hơn.

Thế rồi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ vô cùng ác liệt. Anh Quý là nhân viên Bưu điện huyện Sóc Sơn, là con duy nhất của liệt sĩ nên được miễn nhập ngũ nhưng anh xung phong đi bộ đội. Sau thời gian huấn luyện, anh được về thăm nhà. Một sinh linh bé nhỏ lại được hoài thai, minh chứng cho tình yêu của hai người. Đầu năm 1968, anh tạm biệt mẹ, tạm biệt vợ con lên đường vào Nam chiến đấu. Một lần nữa hai người phụ nữ ấy lại nén yêu thương tiễn chồng, con ra trận. Cuộc sống của ba mẹ con bà cháu cứ thế trôi đi trong sự khó khăn thiếu thốn nhưng tràn đầy tình yêu thương và hy vọng. Những cánh thư của con trai gửi về là động lực để mẹ và vợ anh hăng say lao động sản xuất, góp sức cùng cả nước đánh giặc. Nhưng trong chiến tranh, mọi điều đều có thể xảy ra. Khi bà Huệ mang thai đến tháng thứ 8 thì nghe tin chồng hy sinh. Cú sốc quá lớn khiến mẹ Lan quỵ ngã, còn bà Huệ phải vào viện vì thai nhi bị ảnh hưởng. Bé Nguyễn Thị Thủy ra đời trong những ngày đau thương đó. Hai mẹ con lại gồng mình để nương tựa vào nhau. Không thể kể hết những khó khăn, vất vả của hai người vợ liệt sĩ-một người hơn 40 tuổi, một người 23 tuổi. Vắng người đàn ông trong nhà, mọi việc đều đổ dồn lên đôi vai của hai người phụ nữ, từ lợp mái nhà, cày ruộng đến gánh lúa, trồng khoai. Những đêm mưa, nhà dột, bốn mẹ con bà cháu ôm nhau xoay xở. Thương con dâu còn quá trẻ, lại ngoan hiền, mẹ Lan động viên con dâu đi bước nữa, rồi chính mẹ lại đi tìm người để mai mối cho con. Nhưng vì thương mẹ chồng chỉ có một mình, thương hai đứa con gái thơ dại mà bà Huệ đã từ chối nhiều đám hỏi. Mấy mẹ con, bà cháu lại ríu rít, làm gì cũng làm cùng nhau. Mẹ Lan coi bà Huệ như con gái, còn bà Huệ cũng cảm thấy may mắn vì mình có được người mẹ chồng nhân hậu. Thuyết phục con dâu đi bước nữa không thành, mẹ động viên con đi xin một đứa con để có người nối dõi. Mới đầu nghe mẹ chồng nói tới chuyện ấy, bà Huệ giãy nảy, khóc đứng khóc ngồi. Bà không thể làm được điều đó bởi tuy chỉ có ba năm sống đời sống vợ chồng, nhưng bà cảm nhận được tình yêu chân thành của ông và nguyện chung thủy với tình yêu ấy. Nhưng rồi trước sự nài nỉ của mẹ chồng muốn có một đứa cháu trai để sau này hương khói, bà Huệ đã nhắm mắt đi xin một đứa con. Năm 1977, cô cháu gái thứ ba Nguyễn Thị Bích Hồng chào đời. Mặc dù không phải là cháu trai như mẹ Lan mong muốn nhưng lại một lần nữa mẹ chăm sóc con dâu sinh nở, lại bế lại bồng cháu cho con dâu đi làm. Cô cháu gái đó giờ đã là một cô giáo trường làng, rất tự hào về bà nội của mình. Còn mẹ Lan thì có cái gì cũng phần cháu gái Hồng nhiều nhất, mẹ bảo: "Vì nó là út ít mà". Nuôi dạy ba cô con gái nên người, có công ăn việc làm tử tế, bà và mẹ lại gây dựng gia đình cho ba chị em. Đó là niềm vui lớn nhất của hai người phụ nữ này.

Sáu lần mẹ chồng đi viện, từ mổ ruột thừa đến sỏi mật, dạ dày… đều một tay bà Huệ chăm sóc. Con cái lớn phụ giúp chăm bà nội nhưng mẹ Lan chỉ ưng cái nước chăm, nước làm của bà Huệ. Khi có tuổi hơn, một đêm mẹ thức dậy ba, bốn lần, có đêm mất ngủ, con dâu biết ý luôn thức dậy nói chuyện cùng mẹ cho qua cảm giác đêm trường. Trong căn nhà ấm áp đó, những câu chuyện giản dị về đồng áng, về xóm làng, về những ký ức với chồng, với con cứ được chuyện trò từng đêm, trong những buổi trưa hè, những buổi làm đồng và trong những đêm đông giá lạnh. Sự cảm thông của hai người phụ nữ dành cho nhau đã giúp họ yêu thương nhau hơn, bỏ qua được những va chạm vặt vãnh hằng ngày. Tôi hỏi: “Có bao giờ bà bị mẹ chồng mắng không?”, bà Huệ cười, bảo: “Nhiều lúc cụ tôi cũng khó tính lắm đấy, nhưng cụ dạy cũng vì thương tôi thôi nên tôi cứ coi lời mắng như câu hát, lựa ý cụ mà sống cho vui vẻ”.

Có mặt trong đoàn khách đến thăm mẹ Lan, ông Đỗ Văn Thìn, Chủ tịch UBND xã Xuân Giang hết lời ca ngợi gia đình mẹ Lan, ông bảo câu chuyện nàng dâu-mẹ chồng nhà mẹ Lan luôn là tấm gương sáng cho chị em phụ nữ trong xã, trong thôn học tập. Còn tôi thì nghĩ rằng, trước đây, chúng ta có câu chuyện rất cảm động về mẹ chồng-nàng dâu trong phim "Mẹ chồng tôi", nhưng câu chuyện mẹ Lan, bà Huệ còn sâu sắc, thấm đẫm ân tình hơn cả câu chuyện trong phim.

Bài và ảnh: TUYẾT PHẠM