Với không ít người nước ngoài, Việt Nam được biết đến vì đã chiến thắng nhiều kẻ thù ngoại xâm hùng mạnh, còn lịch sử và văn hóa không có nhiều điều quá đặc biệt so với các quốc gia trong khu vực. Thế nên, khi hơn 300 báu vật khảo cổ Việt Nam được trưng bày trong 3 năm tại ba bảo tàng lớn của Đức, đã tạo ra một sự ngạc nhiên lớn. Nhận xét khách quan về giá trị của các hiện vật Việt Nam, Tiến sĩ Andreas Reinecke (Viện Khảo cổ học Đức) cho biết: “Tại châu Âu có rất ít cuộc triển lãm trưng bày khảo cổ từ thời tiền sử đến thế kỷ XVIII như thế này, phải nói là rất đặc biệt. Khi tổ chức ở Đức, hàng trăm nghìn người đã đến tham quan, các nhà báo, học giả quan tâm và bàn luận rất nhiều. Một số tờ báo và tạp chí đã làm số đặc biệt về Việt Nam nhân dịp này”.

leftcenterrightdel
Mũ thượng triều bằng vàng, đá quý, san hô, kim sa của vua triều Nguyễn (1802-1945).

Với những người Việt Nam sống ở châu Âu, cuộc trưng bày có ý nghĩa đặc biệt, như lời kể của ông Reinecke, rất nhiều người gốc Việt thế hệ thứ hai, thứ ba ở Đức, rất ít nói tiếng Việt, thậm chí không nói được tiếng Việt. Họ không có nhiều điều kiện tìm hiểu về văn hóa, lịch sử Việt Nam. Khi biết đến cuộc trưng bày ở Đức, nhiều người đã đưa con cháu đến xem, giọng run run nói rằng, đó là một ngày đặc biệt với các con cháu của họ. Ông Nguyễn Văn Đoàn, Phó giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cũng chia sẻ: “Khi chứng kiến hình ảnh những người phụ nữ Việt ở Đức mặc áo dài truyền thống đến xem trưng bày, tôi thật sự rất xúc động”.

Trở về sau 3 năm ở xứ người, hơn 300 hiện vật khảo cổ học Việt Nam tiếp tục chinh phục người xem trong nước bởi nội dung phong phú, theo suốt chiều dài lịch sử dân tộc, bao gồm: Báu vật khảo cổ học thời tiền sử Việt Nam; Báu vật khảo cổ học thời kỳ kim khí Việt Nam (gồm Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Sa Huỳnh, Văn hóa Đồng Nai); Khảo cổ học lịch sử (gồm Báu vật khảo c, r học Việt Nam 10 thế kỷ đầu Công nguyên, Champa và di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn, Văn hóa Óc Eo-Phù Nam, Báu vật khảo cổ học thời kỳ phong kiến Việt Nam).

leftcenterrightdel

Mũi tên đồng và khuôn đúc bằng đá (Văn hóa Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2.500-2.000 năm).

12 đơn vị tham gia đóng góp các hiện vật để có một trưng bày hoành tráng, nhưng sâu xa hơn đây là nỗ lực của hàng nghìn nhà khảo cổ học trong và ngoài nước đã dành nhiều thời gian, công sức phát hiện ra những hiện vật tưởng chừng bị lãng quên trong lòng đất. Với một đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh, thời tiết không thuận lợi, những di sản vật thể, tài liệu ghi chép không còn lại được bao nhiêu. Khảo cổ học là con đường khả dĩ nhất, thực chứng nhất “vẽ” lại lịch sử, chứng minh cho những luận điểm khoa học. Chẳng hạn, trước năm 1945, khi các nhà khảo cổ học Pháp phát hiện ra các di tích ở Văn hóa Đông Sơn (700-100 năm TCN) với các hiện vật làm bằng đồng, họ cho rằng đó là văn hóa ngoại lai lan đến, cư dân bản địa chưa có đủ trình độ để chế tác đồ đồng tinh xảo. Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học lại phát hiện một số hiện vật của Văn hóa Phùng Nguyên có niên đại 2.000-1.500 năm TCN, chứng minh có sự kế thừa, điều này có nghĩa: Văn hóa Đông Sơn với biểu tượng là trống đồng thực sự có nguồn gốc bản địa.

Một điểm đáng chú ý khác của trưng bày lần này, đó là chứng minh sự đa dạng các nền văn hóa cổ xưa từng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Từ thế kỷ XVI trở đi, khi các chúa Nguyễn đưa quân và dân đến khai phá miền đất ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ, người Việt mới thực sự làm hồi sinh, phát triển các miền đất hoang vu “muỗi kêu mà như sáo thổi, đỉa lờn tựa bánh canh”. Nhưng trước đó, nhờ các cuộc khảo cổ, người ta mới biết đến các nền văn hóa Champa, Óc Eo, Đồng Nai... đã tồn tại trước đó hàng trăm, hàng nghìn năm. Chuỗi hạt bằng thủy tinh tìm thấy tại Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), khuyên tai hai đầu thú bằng mã não và đá thuộc nhóm hiện vật di tích Giồng Cá Vồ (huyện Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh) của Văn hóa Đồng Nai, mảnh vàng trang trí mặt trời có niên đại thế kỷ III-thế kỷ VI khai quật tại Gò Tháp (Đồng Tháp)… minh chứng cho sự ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và văn hóa Nam Đảo. Việt Nam thực sự ở giữa ngã tư đường của sự giao lưu khu vực và quốc tế từ xa xưa và như vậy lịch sử và văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng, có bề dày đặc sắc bậc nhất ở khu vực.

leftcenterrightdel
Khách tham quan trưng bày “Báu vật khảo cổ học Việt Nam” tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Ảnh: THU HÒA

Nhiều nhà khoa học khi tham quan triển lãm đều công nhận, rất nhiều hiện vật có thể làm hồ sơ công nhận “Bảo vật quốc gia” cho các đợt xét tiếp theo. Điều đó đương nhiên là cần thiết, nhưng điều cần làm hơn là làm sao phát huy các giá trị báu vật khảo cổ học của nước nhà. Cuộc triển lãm ở Đức đã thành công, tạo đà cho những cuộc triển lãm ở các nước khác để bạn bè quốc tế hiểu thêm về văn hóa-lịch sử Việt Nam; đồng thời tìm cách giới thiệu sâu rộng tới người dân trong nước, nhất là thế hệ trẻ, các hiện vật khảo cổ học mới thực sự “kể chuyện” sau khi ngàn năm im lìm trong lòng đất.

AN BÌNH